Thứ Hai, 22 tháng 2, 2016

17 lời khuyên về cuộc sống từ Thiền sư Kodo Sawaki

GN - Kodo Sawaki (1880-1965) hay “Kodo-Kẻ không nhà”, là một trong những vị thiền sư phái Tào Động (Nhật Bản) có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX. Là trẻ mồ côi, 16 tuổi xuất gia, sau bị gọi nhập ngũ, chiến tranh kết thúc Sawaki quay về tiếp tục tu học thiền. Kodo Sawaki lập hạnh không trụ mà đi khắp nơi để dạy thiền. 
Thiền sư Kodo Sawaki (1880-1965)


Thiền sư Sawaki luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hành thiền hơn là học kinh sách hay tham công án. Một số lời khuyên dạy của Kodo Sawaki được môn sinh tập hợp thành “Gửi bạn”, xin chia sẻ đến bạn đọc suy ngẫm.
1. Gửi người bắt đầu biết suy gẫm về cuộc đời
Ở một số nơi tại Mãn Châu, các cỗ xe thường do các chú chó to lớn kéo. Bác xà ích treo một miếng thịt trước mũi chó, và chú chó chạy như điên theo miếng thịt. Nhưng dĩ nhiên là chú không bao giờ với tới. Chú chỉ được vứt cho miếng thịt khi cỗ xe đã về tới đích. Rồi chỉ trong một cái ngốn, chú nuốt chửng miếng thịt xuống cổ họng.
Người đi làm với đồng lương cũng y hệt như thế. Từ đầu tháng cho đến cuối tháng, họ cũng chạy theo đồng lương treo trước mũi. Một khi đã lãnh lương, họ cũng ngốn nó, và lại sẵn sàng chạy tiếp theo kỳ lương tới. Không ai có thể thấy xa hơn đầu mũi của mình.
Câu hỏi là: Tại sao bạn phải khốn khổ như thế?
Nếu không cẩn thận, bạn sẽ phí hết cuộc đời mình không làm gì ngoài việc chờ đợi những hy vọng tầm thường nhất của mình có thể thành tựu.
2. Gửi người không thể nào dừng lo lắng người khác nghĩ về mình như thế nào
Bạn không thể nào đổi bất cứ thứ gì với người khác. Mỗi và mọi người phải sống cuộc đời riêng của mình.
Đừng phí thời gian suy xét xem ai là người tài giỏi nhất.
Mắt không nói, “Chúng tôi thấp hơn, nhưng thấy nhiều hơn”. Chân mày không trả lời, “Đúng, chúng tôi không thấy gì, nhưng chúng tôi ở cao hơn”.
Mũi không thể thay mắt, và miệng không thể thay cho tai.
Mọi thứ đều có nhiệm vụ riêng của mình, mà không gì trong vũ trụ có thể thay thế.
3. Gửi người đã hoàn toàn mệt mỏi trong việc đấu tranh với người phối ngẫu
Vấn đề không phải ai là người đúng. Đơn giản là các bạn nhìn sự việc theo quan niệm khác nhau. Khi bạn bắt đầu nói “Tôi”, mọi thứ theo sau đều là ảo tưởng.
Hãy thôi cố gắng làm một người đặc biệt - hãy cứ là chính mình. Hãy kiềm chế. Ngồi xuống!
4. Gửi người nghĩ làm giống người khác là có lợi
Bạn luôn bám theo người khác. Nếu họ ăn khoai chiên, bạn cũng đòi ăn khoai chiên. Nếu ai đó ăn kẹo, bạn cũng muốn ngậm kẹo. Nếu ai đó thổi còi, bạn cũng kêu đòi: “Mẹ ơi, mua cho con cái còi”. Và điều đó không chỉ xảy ra đối với con trẻ.
Khi mùa xuân tới, bạn quay cuồng theo mùa xuân. Khi thu đến, bạn chạy theo mùa thu. Ai cũng chờ đợi thứ gì đó để chạy đuổi theo. Có người còn kiếm sống được nhờ sự chạy đuổi theo đó - họ làm nghề quảng cáo.
Với từng cá nhân, chúng ta còn chịu đựng nổi, nhưng khi họ lập thành nhóm, họ bắt đầu trở nên quái dị. Họ bị rơi vào sự ngu ngốc của nhóm, của bầy đàn.
Khi sống trong sự ngu ngốc của nhóm, chúng ta lẫn lộn giữa sự cuồng điên và kinh nghiệm thực sự. Nên điều quan trọng là bạn phải rõ ràng về bản thân, và thức tỉnh khỏi cơn điên đó. Thiền có nghĩa là rời bỏ bầy đàn và tự đi trên đôi chân của mình.
5. Gửi người mà suốt đời chỉ biết có tiền và tiền
Hạnh phúc và bất hạnh của con người không chỉ tùy thuộc vào tiền. Nếu con số trong tài khoản tín dụng của bạn là thước đo lường hạnh phúc, thì sự việc sẽ đơn giản xiết bao. Tuy nhiên thực sự nó không phải như thế.
Đừng quá tiêu cực khi bạn bắt đầu nói là bạn cần tiền để sống. Trong thế giới này, bạn có thể hoàn toàn sống tốt mà không cần đến sổ tiết kiệm.
Một số người nghĩ rằng họ quan trọng bởi vì họ có tiền. Người khác thì cho mình quan trọng vì đã đạt được giác ngộ (satori). Nhưng cho dầu bạn thổi phồng tấm da thịt này bao nhiêu, bạn cũng không thể biến mình thành gì cả - ngoài việc trở thành ma.
Những gì không thuộc về bạn chiếm đầy vũ trụ. Khi nào những suy tưởng của cá nhân bạn chấm dứt, thì Phật pháp có mặt.
6. Gửi người thích có nhiều tiền, tình yêu, chức vị và danh vọng
Si mê có nghĩa là chỉ biết chăm lo cho bản thân mình. Còn kẻ trí nói, “Dầu có gì xảy ra, tôi vẫn là tôi”.
Một lần tôi viếng thăm một mỏ than. Có lúc khi đang đi xuống, tôi có cảm giác như thình lình chúng tôi lại trở lên cao. Cũng giống như thế, khi suy nghiệm về cuộc đời mình, hình như chúng ta luôn sai lầm khi lầm tưởng rằng những con số luôn thay đổi là tổng số.
Thua là định. Thắng là ảo tưởng.
Không thèm muốn bất cứ thứ gì là món quà lớn nhất mà bạn có thể ban tặng cho vũ trụ.
7. Gửi người muốn thấy kẻ thù bị điêu đứng
Chúng ta thường nghĩ không biết ở đây ai thực sự là kẻ hay hơn. Nhưng chẳng phải là tất cả chúng ta đều tượng hình từ cùng nắm đất đó sao?
Mọi người cần ngồi chôn chặt xuống chỗ không có tốt hơn hay xấu hơn.
Suốt đời bạn đã là kẻ điên rồ khi nghĩ rằng thực sự có “tôi” và “người khác”. Bạn làm đủ trò để nổi bật trong đám đông, nhưng trong thực tế thì không có “bạn” hay “người khác”.
Phật pháp có nghĩa là liền một mảnh. Vậy thì đường biên nào chạy giữa bạn và tôi?  Dần dần tất cả chúng ta đều hành xử như thể có đường biên chia tách bạn và thù. Chúng ta đã quen quá với cách suy nghĩ đó, ta tin rằng đường biên đó thực sự hiện hữu.
Nghèo hay giàu, quan trọng hay không quan trọng - không có gì hiện hữu. Chúng chỉ là ánh sáng lấp lánh trên các làn sóng.
8. Gửi người đang đau khổ vì bị lường gạt
Tất cả chúng sanh đều lầm lạc: xem là hạnh phúc cái đưa đến bất hạnh, và than khóc vì một bất hạnh hoàn toàn không phải là bất hạnh. Tất cả chúng ta đều biết là một đứa trẻ đang khóc có thể biến nước mắt thành tiếng cười khi bạn cho nó cái bánh. Cái mà những kẻ phàm phu như chúng ta gọi là hạnh phúc cũng không hơn thế bao nhiêu. Đôi lúc bạn cần tát vào mặt mình để tự hỏi một cách nghiêm túc: Những điều bạn được hay mất có thực sự đáng được bạn reo hò hay than khóc như thế không?
Sớm muộn gì mọi người cũng bắt đầu chỉ nghĩ cho riêng mình. Bạn nói, “Tốt quá!”. Nhưng cái gì tốt?  Nó chỉ tốt cho bản thân bạn, thế thôi.
Người có nhiều ham muốn rất dễ bị lường gạt. Ngay cả những kẻ lừa phỉnh đại tài nhất cũng không mong được gì từ người không có lòng tham muốn.
Phật giáo có nghĩa là vô ngã, không có gì để đạt được.
9. Gửi người lận đận trên đường công danh
Khi đã chết và bạn nhìn lại cuộc đời mình, bạn sẽ thấy những thứ này không đáng chi.
May mắn hay rủi ro, tốt hay xấu - không phải tất cả đều như bạn nhìn thấy. Cũng không phải giống như bạn nghĩ đâu. Bạn cần phải vượt lên trên may mắn hay bất hạnh, tốt hay xấu.
Đau khổ không là gì hơn là cái khổ ta tự tạo ra cho bản thân.
10. Gửi người luôn than thở rằng mình không có thời gian
Mọi người đều than phiền là họ quá bận rộn đến không có thời gian. Nhưng tại sao họ lại bận rộn đến thế? Chính là ảo vọng khiến họ bận rộn. Người hành thiền luôn có thời gian. Khi bạn hành thiền, bạn có nhiều thời gian hơn bất cứ ai ở trên thế gian này.
Nếu không cẩn thận, bạn đang làm ầm ĩ cái việc kiếm sống của mình. Bạn luôn bận rộn, nhưng tại sao? Chỉ là để kiếm miếng ăn. Đàn gà cũng tíu tít khi mổ thức ăn. Nhưng tại sao? Chỉ để bị người ta ăn thịt.
Người ta có thể tạo ra bao nhiêu ảo vọng trong một cuộc đời? Khó thể tính toán. Ngày này qua ngày khác, lúc nào cũng “Tôi muốn cái này, tôi muốn cái kia...”.  Chỉ dạo một vòng trong công viên cũng đã có bao vọng tưởng hiện ra trong đầu. Vậy đó là ý  nghĩa  của ‘bận rộn”, “Tôi muốn được bên em, tôi muốn về nhà, tôi muốn gặp em...”.
Con người luôn thở không ra hơi vì chạy quá nhanh theo ảo vọng của họ.
11. Gửi người đang mong muốn có một cuộc sống hạnh phúc hơn
Hãy tịnh lắng và mọi thứ rồi sẽ tốt thôi. Ta chỉ cần một sự gián đoạn ngắn. Làm Phật có nghĩa là một sự gián đoạn ngắn từ làm chúng sanh. Làm Phật không có nghĩa là phải đi từ chúng sanh lên.
“Loài nào đứng trên mặt đất mà không đi tới cũng chẳng đi lui?”. Kyuho trả lời, “Là con cừu đá với con cọp đá: trước sau gì chúng cũng mệt mỏi khi phải kình chống nhau”. Con cừu đá không nhúc nhích. Con cọp đá cũng không nhảy chồm lên vì đói. Điểm mấu chốt là đó - hãy đối mặt với sự việc vượt lên cả suy tư.
Chúng ta được gì khi thực sự nắm bắt sự vật như chúng đang là? Vượt trên sự suy tư. Vượt lên trên suy tư không cho phép nó tự suy tư. Dầu bạn có nghĩ thế hay không: sự vật cũng đơn giản như chúng là.
“Tất cả mọi pháp đều trống không” có nghĩa là không có gì để chúng ta can dự vào, vì không có gì thực sự xảy ra.
Chưa từng có gì xảy ra, bất chấp những gì như đang xảy ra - đó là trạng thái tự nhiên. Ảo tưởng là đánh mất trạng thái tự nhiên này. Thông thường chúng ta không nhận ra được trạng thái tự nhiên này. Chúng ta che giấu nó với một điều gì khác, nên nó không còn tự nhiên nữa.
Phật pháp có nghĩa là trạng thái tự nhiên này. Thực hành theo Phật có nghĩa là hoàn toàn sống trong giây phút hiện tại này - là cả cuộc sống của ta - ngay đây và bây giờ.
12. Gửi người muốn học Phật pháp để hoàn thiện bản thân
“Lý thuyết rỗng tuếch” là cách ta gọi những kẻ sính dùng thuật ngữ. Kiểu đó thì không ích lợi gì. Hãy đắm cả hồn và xác vào đó!
Bạn phải hoàn toàn chết để có thể quán tưởng về Phật pháp. Chỉ tự hành xác và chết nửa vời thì không đủ.
13. Gửi người cho rằng Phật giáo không có nghĩa lý gì đối với họ
Khi nói về Phật, bạn đang nghĩ đến một điều gì xa vời, không liên quan đến bạn, đó là lý do tại sao bạn chỉ chạy loanh quanh trong vòng tròn.
Chúng sanh và Phật đều có cùng hình tướng. Tỉnh giác và si mê cũng có cùng hình tướng. Khi ta thực hành theo Phật pháp, chúng ta là Phật. Hay đúng hơn, chính vì ta đã là Phật nên ta có thể thực hành theo Phật pháp.
Bạn nghĩ rằng Phật giáo thì hơi khác với mọi thứ. Nhưng không phải như thế chút nào: Phật giáo chính là mỗi và tất cả mọi thứ.
14. Gửi người không biết việc hành thiền của mình có ích lợi gì không
Thiền có ích gì? Hoàn toàn không! Nhưng cái “chẳng ích lợi gì” này phải thấm vào xương thịt bạn cho đến khi bạn thực sự thực hành cái “chẳng ích lợi gì”. Chỉ đến khi đó, thì việc hành thiền của bạn mới thực sự chẳng ích lợi gì.
Bạn nói rằng bạn muốn trở thành người tốt hơn bằng cách hành thiền. Nhưng thiền không phải là về việc học làm thế nào để thành một con người. Thiền là dừng lại việc làm người.
Bạn nói, “Khi thiền, tôi bị ảo tưởng!”. Điên rồ! Sự thật là chỉ khi hành thiền bạn mới ý thức đến các ảo tưởng của mình. Khi bạn quay cuồng với ảo tưởng của mình, bạn đâu hề để ý tới chúng. Lúc bạn hành thiền, một con muỗi chích, bạn cũng biết ngay. Nhưng khi bạn đang quay cuồng, thì con vắt có cắn, bạn cũng không hề hay.
Đừng càu nhàu. Đừng có trao tráo mắt nhìn khoảng không. Chỉ ngồi!
15. Gửi người với tâm bấn loạn đang cố hết sức để được tâm an
Tâm bạn không an vì bạn đang chạy đuổi theo lý tưởng của một tâm hoàn toàn thanh tịnh. Đó là đi thụt lùi. Hãy theo dõi tâm trong từng giây phút, dầu nó có loạn động đến thế nào. Ta chỉ có thể đạt được tâm an lạc rộng lớn khi thực hành với tâm loạn động này.
Khi sân cuối cùng được chấp nhận là tâm sân, thì tâm sẽ an lạc.
16. Gửi người cho rằng mình đạt được trạng thái tâm tốt đẹp hơn nhờ thiền định
Khi nào bạn còn cho rằng thiền là việc tốt, thì có điều gì đó không bình thường. Hoàn toàn không có gì đặc biệt về thiền không vết nhơ. Không cần phải hàm ân về điều đó.  Đừng làm ô uế việc hành thiền của bạn bằng cách nói là bạn đã tiến bộ, cảm thấy tốt hơn, hay trở nên tự tin hơn trong việc hành thiền.
Chúng ta chỉ nói, “Mọi việc tốt đẹp!” khi chúng xảy ra theo ý ta.
Lý ra chúng ta phải để dòng nước của trạng thái ban đầu của ta như nó là. Nhưng thay vào đó, ta cứ liên tục vọc tay vào đó để xem nước lạnh hay ấm. Đó là lý do nó bị vẩn đục.
Thiền không phải là máy đo khi nhiệt độ từ từ tăng lên: “Thêm chút nữa…, đúng rồi! Giờ tôi đã đạt được giác ngộ!”. Thiền không bao giờ trở thành một điều gì đó đặc biệt, dầu bạn có thực hành nó trong bao lâu. Nếu nó trở thành đặc biệt, chắc chắn là bạn đã lơi lỏng chỗ nào rồi.
17. Gửi người kỳ vọng một cách sống tuyệt đối
Phật pháp là gì?  Đó là để mọi khía cạnh trong đời sống hàng ngày của bạn đều nương tựa theo Phật.
Cốt lõi của tất cả mọi hành động là đi đến chỗ tận cùng. Nếu tâm bạn vắng mặt dù chỉ một giây, bạn không khác gì cái xác chết. Thực hành là luôn tự hỏi mình “Ngay bây giờ tôi có thể làm gì theo như Phật?”.
Đạt được đích chỉ một lần thôi chưa đủ. Điểm tối đa của năm ngoái chẳng ích lợi gì. Bạn cần phải đạt được đích ngay bây giờ.
Nguyên tác: Thiền sư Kodo Sawaki

Diệu Liên Lý Thu Linh chuyển ngữ 

(từ  TO YOU)

Thứ Bảy, 20 tháng 2, 2016

Ý nghĩa của các từ Đại đức, Thượng tọa và Hòa thượng

Theo nghĩa chung thì Đại đức, Thượng tọa và Hòa thượng đều là những tu sĩ Phật giáo, là chư Tăng, cũng còn gọi là Tỳ kheo (Bhiksu - Bhikkhu), và theo tên gọi chung vốn có từ trước thời Đức Phật thì đó là các vị sa môn (Sramana - Samana) tức là các tu sĩ, lìa bỏ gia đình, sống thanh bần, ẩn dật…

Ba từ ngữ trên đều dùng để tôn xưng, do người khác nêu lên để tỏ sự kính trọng đối với một vị tu sĩ Phật giáo có trí tuệ, đức độ, chứ không phải dùng để tự xưng. Để tự xưng, thường thì các vị đạo hạnh ưa dùng từ Tỳ kheo trước pháp danh.


Trường hợp này cũng như các từ tôn xưng Ngài, Đức, Tôn đức, Tôn giả… vậy, không ai tự xưng mình như thế cả.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay phân biệt như sau:

- Đại đức: vị Tăng thọ Đại giới (250 giới sau ít nhất 2 năm thọ giới Sa di (10 giới) và tu tập ít nhất 2 năm, tuổi đời ít nhất là 20 tuổi.

- Thượng tọa: Vị Đại đức có tuổi đạo ít nhất là 25 năm (tuổi đời trên 45 tuổi).

- Hòa thượng: vị Thượng tọa có tuổi đạo ít nhất là 40 năm (tuổi đời trên 60 tuổi).

Danh hiệu "Đại lão Hòa thượng" được dùng để gọi những vị Hòa thượng có tuổi đạo từ 60 năm trở lên, và thường tuổi đời trên 80 tuổi.

Tuy không dùng để tự xưng, các từ ngữ này cũng thường được dùng trước pháp danh trên các giấy tờ, thông bạch, văn thư… của chùa và Giáo hội.

Cờ Phật giáo có từ bao giờ và ý nghĩa ra sao?

Người phác họa ra lá cờ Phật giáo là ông Henry Steel Olcott, nguyên là đại tá Hải Quân của Quân đội Hoa Kỳ, sinh năm 1832 tại New Jersey (Hoa Kỳ) và mất năm1907 tại Adyar (Ấn Độ).
 
Năm 1889, ông cùng Thượng Tọa Sumangala (người Tích Lan) phỏng theo sáu màu hào quang của Đức Phật (xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam và màu tổng hợp của năm màu này) để phác họa ra mẫu cờ Phật giáo.

Lá cờ này đã được công bố trên báo năm 1885 và được treo cũng năm này, vào lễ Phật Đản đầu tiên ở Sri Lanka dưới chế độ cai trị của thực dân Anh. Năm sau, ông đã sửa lại lá cờ thành hình dạng như bây giờ và được treo tại Lễ Phật Đản năm 1886.

Năm 1950, Đại hội Phật giáo Thế giới đã công nhận đây là lá cờ chính thức của Phật giáo thế giới. Tại chùa Từ Đàm (Huế), Đại Hội Phật giáo ba miền Việt Nam năm 1951 đã chấp nhận lá cờ này cũng là cờ Phật giáo Việt Nam.

1- Cờ Phật giáo gồm 5 sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng, và vàng cam là tượng trưng năm đạo hào quang của Đức Phật, biểu tượng cho đức tánh viên mãn:

- Màu xanh: tượng trưng cho thiền định.

- Màu vàng: tượng trưng cho trí huệ.

- Màu đỏ: tượng trưng cho tinh tấn.

- Màu trắng: tượng trưng cho thanh tịnh.

- Màu vàng cam: tượng trưng cho từ bi.

Ngoài ý nghĩa biểu trưng năm đạo hào quang của Đức Phật, cờ Phật giáo còn:

2-  Tượng trưng cho năm căn: Năm căn gồm có: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn. Đây là 5 đặc tính tinh thần tạo thành sức mạnh để cho phật tử có đủ nghị lực và khả năng thẳng tiến trên đường giác ngộ.

Ngoài ra còn bao hàm ý nghĩa tượng trưng cho 5 phù trần căn. Đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân. Sinh hoạt của mỗi con người đều nương vào năm căn, tức là năm giác quan. Năm căn tiếp xúc với năm trần (màu, sắc, âm thanh, mùi vị, chạm xúc) sinh ra năm thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức và thân thức).

alt

Cờ Phật giáo

Mấy ngày qua, nhiều ngôi chùa đã hân hoan tổ chức lễ Phật đản Phật lịch 2558. Tại Saigon, vì sính những kỷ lục to lớn, người ta đã tạo tác những lá cờ Phật giáo với kích thước lớn và vật liệu khác thường:

- Làm bằng xôi 5 màu, kích thước 2x5m. Trọng lượng gạo nếp để thực hiện tác phẩm này là 500kg.

- Làm bằng bánh hỏi 5 màu, cũng kích thước 2x5m,và trọng lượng nguyên liệu bột để thực hiện là 500kg.

Trước đó, tại Chùa Đại Bi (Ninh Bình) đã trưng bày lá cờ Phật giáo bằng hoa tươi lớn nhất châu Á, dài 15m, rộng 4m với 5 màu hoa. Cờ được tạo nên từ 255,800 bông hoa tươi gồm các loài: cúc, lan môn, phăng, binh bong. Tổng trọng lượng của lá cờ và khung sắt hơn 6 tấn. Đây là công trình chào mừng Đại lễ Phật đản Vesak 2014.

alt
Lá cờ Phật giáo bằng hoa tươi lớn nhất châu Á tại Chùa Đại Bi (Ninh Bình)

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

Đức Dalai Lama chúc mừng năm mới

08/02/2016 14:30 (GMT+7)
GNO - Đức Dalai Lama, người đang trải qua đợt điều trị tại một bệnh viện tại Mỹ, hôm 6-2 cho biết ngài đang rất khỏe, khi gửi lời chào nhân năm mới.
"Tôi muốn nói với các bạn rằng tôi đang rất khỏe ... Việc điều trị chỉ mất vài phút mỗi ngày, nhưng sẽ mất nhiều thời gian để hoàn thành việc điều trị. Không có gì phức tạp và cũng không nghiêm trọng.
"Không có gì phải lo lắng. Tôi thoải mái và thấy việc điều trị cũng dễ chịu", Đức Dalai Lama nói.





Đức Dalai Lama với nụ cười hoan hỷ chào năm mới

Đức Dalai Lama, 80 tuổi, người đang ở bệnh viện Mayo Clinic ở Minnesota trong thời gian hơn 2 tuần, cho biết ngài đang trải qua đợt "điều trị tuyến tiền liệt phòng bị".
"Tôi muốn nhân cơ hội này gửi lời chào đến mọi người, xuất gia và tại gia, già trẻ, đặc biệt là những người Tây Tạng.
"Nhân dịp năm mới Tây Tạng, tôi chúc các bạn Tashi Delek (lời chúc Tây Tạng)", ngài bày tỏ và cảm ơn tất cả những ai đã cầu nguyện cho sự bình an của mình.
"Tôi muốn nói các bạn không phải lo lắng gì cả", ngài nói.
"Tôi trân trọng tất cả những người đã cầu nguyện cho tôi và nỗ lực vì tôi", ngài nói.
Ngài kêu gọi mọi người hãy "tạo ra cái nhân của hạnh phúc, và sống vì lợi ích của người khác và không làm hại ai".
Văn Công Hưng (Theo The Economic Times)
Nguồn giacngo Online

Nâng cao ý thức khi tham gia mạng xã hội

GN - Tất cả các pháp đều do duyên sinh, duyên diệt. Do đó, bản chất của các pháp đều là Không, đều là “mộng huyễn bào ảnh”, là “hoa đốm giữa hư không”. Đại địa sơn hà cho đến từng hạt bụi và cả những hành vi, những sự giao tiếp xã hội đều bao hàm tính chất “ảo”.
Tuy nhiên, xét từ góc độ xã hội, những cái “ảo” này lại ảnh hưởng to lớn đến đời sống của mỗi người. Từ cái nhìn đó, chúng rất “thực”, rất sinh động. 






Mạng xã hội là chốn công cộng phức tạp, cần sử dụng phương tiện thiện xảo,
khéo lấy cái ảo để hiển lộ cái chân hơn là đã “ảo” càng cho “ảo” - Ảnh minh họa

Sự tương đối giữa “ảo” và “thực” càng trở nên sinh động, rõ ràng hơn khi nhìn vào sự tương tác giữa các trang mạng xã hội với đời sống thực của người sử dụng, đặc biệt ở khía cạnh tiêu cực. Nhiều bài báo gần đây cho thấy phía sau màn hình ảo là những hệ quả thực đáng buồn: những hình phạt, những cái chết, những sự đau khổ, căng thẳng, bức bí…
Do vậy, nhiều bậc cha mẹ đã quan tâm kỹ hơn đến con cái khi chúng tham gia mạng xã hội, đặc biệt Facebook và các diễn đàn. Một người mẹ cho biết: “Mặt trái của mạng xã hội cũng không nhỏ. Đám trẻ lớn dần lên với tác động cả ảo lẫn thật của Facebook. Chúng nhiễm thói quen chửi bậy của người lớn ở ngoài đời và mang lên Facebook sử dụng. Những bài chia sẻ tục tĩu, những lời nhận xét thiếu nghiêm túc, thậm chí vô văn hóa có sức lan tỏa lớn và là một trong những yếu tố gây suy giảm đạo đức xã hội”.
Có một điều rất đáng suy ngẫm là gần đây, một số người yêu thích triết học đã thành lập nhóm Facebook, và quy định đầu tiên của nhóm là “không được nói tục, chửi thề”! Điều đó cho thấy những lời nói thiếu ý thức, thiếu văn hóa trên những trang mạng xã hội đã trở thành một hội chứng nguy hiểm!
Mạng xã hội nhiều năm qua đã lan tỏa đến cửa thiền. Rất nhiều Tăng Ni trẻ sử dụng Facebook như một phương tiện hoằng pháp, nhưng phần lớn vẫn sử dụng Facebook như một trang nhật ký mở, đăng tải những thông tin, hình ảnh rất đời thường, đôi khi thiếu trang nghiêm. Những nỗi niềm, buồn vui, những lời phê bình, chỉ trích lắm khi còn được nhiều vị đăng tải một cách thiếu kiểm soát. Đây là cơ hội cho những người đả phá Phật giáo dùng làm cơ sở để “ném đá” bằng nhiều lời lẽ thô tục, khiếm nhã.
Các trang mạng xã hội, nhất là Facebook, đều thu thập tất cả thông tin, sở thích của người dùng nhằm phục vụ cho chiến dịch quảng cáo - và cả những mục đích khác. Hành vi, thói quen, cho đến những quan điểm, sở thích của người dùng luôn được các trang mạng lưu trữ cẩn thận. Thế giới ảo ấy không phải là nơi có thể “ném đá giấu tay” hay “lời nói gió bay” như nhiều người lầm tưởng.
Do đó, tự giáo dục hành vi khi tham gia mạng xã hội, đặc biệt cần ý thức rõ mình là ai, có vai trò, vị trí nào khi tham gia mạng xã hội là điều hết sức cần thiết đối với mỗi người - nhất là các vị Tăng Ni - nhằm cống hiến những bông hoa tươi đẹp cho cộng đồng, và đó cũng là cách để tự bảo vệ mình, bảo vệ Phật giáo nói chung. Chúng ta cần sử dụng phương tiện thiện xảo, khéo lấy cái ảo để hiển lộ cái chân hơn là đã “ảo” càng cho “ảo”.

Đăng Tâm

Nguồn Giango Online

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới

17:16 08/02/2016
 Nhiều người Việt tại Anh hay Australia giữ nét đẹp truyền thống quê hương bằng cách đi chùa cầu may mắn và bình an trong những ngày cuối năm hoặc sáng mùng 1.
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới

Sáng 7/2 (29 Tết), bạn Trịnh Đình Tuấn Anh, du học sinh tại Anh, cùng 4 người bạn sửa soạn để tới chùa Linh Sơn, khu Croydon, London. Sau một tiếng rưỡi trên xe buýt và qua 35 trạm dừng, các bạn đã đặt chân đến ngôi chùa được hình thành từ đầu những năm 1980. Chùa Linh Sơn vốn là nơi sinh hoạt tâm linh và chỗ dựa cho người dân Việt xa quê hương. 
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
"Chúng tôi cảm nhận rõ sự thanh tịnh khi bước vào chùa và cảm giác như đang ở Việt Nam. Tòa nhà chính của chùa cao 4,5 tầng. Đó là nơi đặt điện thờ, phía sau là khu thờ Phật quan âm. Nhiều cây trúc được trồng xung quanh giống như các ngôi chùa khác ở Việt Nam", Tuấn Anh mô tả. 
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
Du học sinh Việt được một thành viên trong ngôi chùa Linh Sơn hướng dẫn về cách thắp hương, hóa vàng. 
 "Mình và các bạn chọn đi lễ chùa ngày cuối năm với nhiều mong ước cho gia đình, sức khỏe và bình an".
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
Đến buổi trưa, Tuấn Anh và các bạn ăn cơm chay ở chùa. "Chùa Linh Sơn thường nấu cơm chay phục vụ các Phật tử tới cúng lễ. Chúng tôi được nhắc nhở cần ăn trọn vẹn phần thức ăn và chủ động rửa bát của mình", Tuần Anh nói.
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
Tuấn Anh gặp một bác người Việt đã sinh sống tại Anh
từ năm 1981. "Bác kể rằng năm nào cũng đi chùa cầu an mỗi dịp xuân về. Bác cũng hy vọng, sau khi hoàn tất chương trình học, du học sinh Việt sẽ tích cực cống hiến trí tuệ để xây dựng quê hương". 
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
Trong khi đó, tại Australia, Jenny Nguyễn, du học sinh Việt cho biết, năm nay là năm thứ 2 bạn đón Tết xa nhà. "Những ngày gần Tết Nguyên đán, mình cảm thấy rất nhớ nhà. Nhưng do còn một số việc chưa được giải quyết, năm nay mình không thể về đoàn tụ cùng gia đình".
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
Jenny cho hay, đêm giao thừa, cô cùng bạn và anh trai tới ngôi chùa Phước Huệ của người Việt tại
St Johns Park, khu ngoại ô của thành phố Sydney. Du học sinh cảm nhận rõ không khí Tết của cộng đồng người Việt sống xa quê hương và nguôi nỗi nhớ nhà.
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
 Nguyễn Tuyết Trang tại Sydney cho biết, không khí ngày Tết ở Australia không rạo rực bằng tại Việt Nam. Gia đình cô chỉ tổ chức ăn tất niên vào chiều hôm 30 và đi chùa vào sáng mùng 1. “Đến trưa, mình cảm thấy như Tết đã hoàn toàn biến mất”, cô nói.
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
Trang và gia đình đến chùa Minh Quang ở Sydney vào sáng mùng 1 Tết. Nhân dịp đầu năm, cô mong muốn gia đình bình an, hạnh phúc và gặp nhiều may mắn.
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
Cách đó hàng nghìn km, tại Nhật Bản, các bạn du học sinh người Việt tại thành phố Kyoto cũng tổ chức tiệc mừng năm mới.
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
Tiệc tất niên của du học sinh được chuẩn bị khá công phu, từ chuẩn bị các món ăn mang đậm hương vị quê hương đến các màn múa hát và trò chơi.
Người Việt ở nước ngoài đi chùa cầu an cho năm mới
Các bạn trẻ cho biết, hoạt động như một món ăn tinh thần, giúp các bạn vơi đi phần nào nỗi nhớ gia đình. Nhân dịp năm mới Bính Thân, hội du học sinh Việt Nam tại thành phố Kyoto gửi lời chúc tốt đẹp nhất tới Zing.vn và các độc giả.
Hải Anh - Kim Ngân
Ảnh: NVCC

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2016

ĐẦU NĂM ĐI LỄ CHÙA

Chính điện chuà Thiên Trù, nằm trong quần thể chùa Hương Tích 


Đi lễ chùa đầu năm là một sinh hoạt không thể thiếu của người dân trong dịp Tết đến, xuân về. Phong tục này đã trở thành một nét đẹp văn hóa tâm linh trong đời sống mỗi người Việt Nam. Việc đi lễ chùa đầu năm còn có ý nghĩa để cầu an, cầu phúc cho mọi người trong gia đình...Dù đi làm ăn ở đâu xa, tết nguyên đán quay trở về nhà, thắp nén nhang trước mộ tổ tiên, viếng thăm ngôi chùa để lễ Phật, tâm tư lắng đọng trước bàn thờ Phật là dịp gần guỉ với thiêng liêng. Đi lễ đầu năm còn mang một ý nghĩa khác đó là hái lộc đầu năm, mang điều may mắn về cho gia đình. Ði lễ đình, chùa, miếu....xong, lúc trở về người Việt hay có tục hái một cành cây mang về ngụ ý là lấy lộc của trời đất phật thần ban cho. Trước cửa đình cửa đền, thường có những cây đa, cây đề, cây si cổ thụ, cành lá sum suê, khách đi lễ mỗi người bẻ một nhánh, gọi là cành lộc. Cành lộc này mang về người ta cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô. Với một niềm tin tưởng vào việc hái lộc về trong đêm giao thừa sẽ đem lại may mắn quanh năm, người Việt Nam trong buổi xuất hành đầu tiên bao giờ cũng hái lộc. Cành lộc tượng trưng cho tốt lành may mắn. Trong dịp đầu năm đi chùa, niềm thích thú nhất của người Phật tử là được một lần đến thăm chùa Hương vào dịp đầu năm. Đây là một địa danh rất nổi tiếng, có thể  từ bản nhạc duyên dáng truyền cãm từ bài thơ của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp.


ĐI CHÙA HƯƠNG
(Nhạc Trung Đức, thơ Nguyễn Nhược Pháp)

Hôm nay em đi chùa Hương
Hoa cỏ còn mờ hơi sương
Cùng thầy me em vấn đầu soi gương
Khăn nhỏ, đuôi gà cao
Em đeo giải yếm đào
Quần lãnh, áo the mới
Tay em cầm chiếc nón quai thao
Chân em di đôi guốc cao cao

Đường đi qua bến Dục
Moi người ngắm nhìn em
Thẹn thùng em không nói
Em bây giờ mới tuổi mười lăm
Em hãy còn bé lắm (chứ) mấy anh ơi

Đường đi qua Đồng Vọng
Mọi người ngắm nhìn em
Thẹn thùng em không nói
Nam mô A Di Đà
Nam mô A Di Đà 



CHÙA HƯƠNG

Chùa Hương là cách nói trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, nằm ven bờ phải sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.



phong cảnh quần thể của chùa Hương

Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù.  Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, sau được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.



Đi chùa hương bằng xuồng


Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên. Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên.

Chùa Hương với thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp 

Thi s
 ĩ  Nguyễn Nhược Pháp, sinh ngày 12/12/1914, quê làng Phượng Vũ - Phú Xuyên - Hà Tây. Năm 18 tuổi, ông bắt đầu sự nghiệp viết báo, làm thơ, truyện ngắn và kịch. Nguyễn Nhược Pháp được hai nhà phê bình thơ nổi tiếng nhất lịch sử Việt Nam là Hoài Thanh, Hoài Chân đánh giá: "Với vài ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Thơ ông đậm đà những nét phong tục xưa, những nếp văn hoá truyền thống được thể hiện qua những nét tinh tế mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc nhưng không thể thấy dấu tích một nhà thơ xưa nào. Người mất năm 24 tuổi, tấm lòng trắng trong như hồi còn thơ".
Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng nhà văn Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm phật "Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”.



Động Hương Tích trong quần thể của chùa Hương


Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi:

"Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm phật nữa?"

Cô gái bối rối, thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn, tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi, họ bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu, vội len thốc len tháo, lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ :

Hôm nay đi Chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương.
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao,
Em đeo giải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới,
Tay cầm nón quai thao.

Me cười: «Thầy nó trông!
Chân đi đôi dép cong,
Con tôi xinh xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?»

Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm,
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen tươi như trăng rằm.

Nhưng em chưa lấy ai,
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm!
(Ý đợi người tài trai.)

Em đi cùng với me.
Me em ngồi cáng tre,
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.

Thầy me ra đi đò,
Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô.



Bến Đục
Mơ xa lại nghĩ gần,
Đời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước,
Em thấy một văn nhân.

Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường.
Lưng cao dài, trán rộng.
Hỏi ai nhìn không thương?

Chàng ngồi bên me em,
Me hỏi chuyện làm quen:
«Thưa thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông, trời ôi, chen!»

Chàng thưa: «Vâng thuyền đông!»
Rồi ngắm trời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.

Dòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ.
Thầy khen: «Hay! Hay quá!»
Em nghe rồi ngẩn ngơ.

Thuyền đi, Bến Đục qua.
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
«Nam Mô A Di Đà!»
......
......

(trích thơ Nhược Pháp)

Nguồn: http://khanh-blog.over-blog.com/article-hom-qua-em-i-chua-h-ng-thi-s-nguy-n-nh-c-phap-va-ng-i-p-ao-en-59822997.html

Phong cảnh chung quanh Chùa Hương Tích không phải chỉ dành riêng cho chàng thi sĩ Nhược Pháp, mà còn là đề tài cho nhiều thi sĩ nổi tiếng trong làng văn học VN như:


Nhà thơ Tản Đà rất mến cảnh chùa Hương, ông làm nhiều câu thơ rất đặc sắc về cảnh và tình ở đây:

Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy Thu
Xuân lại xuân đi không dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.
Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt
Đá hỏm hang đen tối tối mò.
Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối
Phàm trần chưa biết, nhắn nhe cho. 




Cho đến Nữ sĩ Hồ Xuân Hương củng có bài thơ vịnh động Hương Tích như sau:

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
Người quen cõi Phật quen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
Rõ khéo Trời già đến dở dom. 


Vào những ngày tổ chức lễ hội đầu năm, chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền. Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật. Chính vì vậy, nói đến chùa Hương là nghĩ đến con đò - một dạng của văn hóa thuyền của cư dân Việt ngay từ thuở xa xưa. Và đến nay, ngày hội bơi thuyền ở chùa Hương luôn tạo nhiều cảm hứng cho người đi hội.


Rời con thuyền, giã từ sông nước, con người được hòa nhập vào núi vãn cảnh chùa chiền và bắt đầu hành trình mới - hành trình leo núi. Leo núi chơi hang, chơi động lý thú vui nước đông đảo mọi người tham gia và hưởng ứng. Vì vậy mà leo núi Hương Sơn dẫu có mệt nhưng có cảnh có người và có không khí của ngày hội nên ai cũng cảm thấy thích thú với cuộc chơi sông núi của mình. Cuộc leo núi ấy tạo ra trong con người tâm lý kỳ vọng, muốn vươn lên đến cái đẹp. 





Có thể n
 ói, trẩy hội chùa Hương vào đầu năm không chỉ dừng lại ở chốn Phật đài hay bầu trời - cảnh bụt, mà trước hết là do ở sự tiếp xúc - hòa nhập huyền diệu giữa con người trước thiên nhiên cao rộng. Đó là vẻ đẹp lung linh của sông nước, bao la của đất trời, sâu lắng của núi rừng, huyền bí của hang động… Và dường như đất - trời, sông núi đẹp hơn nhờ tài sáng tạo hình tượng - trí tưởng tượng này lòng nhân ái của con người.
Quan niệm lưỡng hợp biểu hiện ở thế đối ứng hai hiện tượng, hai phạm trù khác nhau mà bên nhau, làm cho cuộc hành trình về nơi thờ Phật dù có lúc vất vả nhưng vẫn đem lại sự cân bằng trong tâm thức và thể lực.


Đi  lễ chùa Hương đầu xuân, là đến với sự thánh thiện, thanh tao như rũ bỏ được những phiền muộn, lo toan. Đồng thời đến với cửa chùa như gạt bỏ đi hết những cái cũ mà mong chờ vào những điều mới tốt đẹp hơn cho suốt một năm dài. Đồng thời nó gắn liền với tổ tiên khi biết tri ân với những bậc thánh nhân. Tác giả cũng ước ao được một lần đến thăm chùa Hương vào một dịp đầu năm nào khi đất nước không còn cộng sản ngự trị trên quê hương VN.


Nguy
ễn Thị Hồng đầu năm Bính Thìn 2016 (7/2/2016)