Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2016

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Từ Nhân gian Phật giáo tới Đạo Bụt ứng dụng



Khi chúng ta tiếp cận được thứ đạo Bụt đang được thực tập tại các trung tâm Làng Mai trên thế giới trong ba mươi bốn năm qua. Chúng ta biết đó là thứ Nhân gian phật giáo, là Đạo Phật đi vào cuộc đời, Đạo Phật hiện đại hóa, Đạo Phật dấn thân, Đạo Phật ứng dụng. Chúng có sự liên thông với nhau, tuy có nhiều tên gọi khác nhau nhưng tất cả đều là một. Vì chúng xuyên suốt từ đạo Phật nguyên thủy tới đạo Phật hiện đại. Chúng ta chỉ cần biết cách áp dụng các giáo pháp tông truyền một cách khế hợp vào đời sống của từng thời đại là đã có thể chế tác được an vui hỷ lạc cho mình và cho người rồi.

Nhân gian Phật giáo
Danh từ Nhân gian Phật giáo xuất hiện lần đầu tại Việt Nam trên Tuần báo Đuốc Tuệ do Hội Phật Giáo Bắc Kỳ xuất bản tại Hà Nội, số đầu ra ngày 10/12/1935. Đuốc Tuệ hoạt động được 10 năm thì bị đình bản vì có cuộc cách mạng giành độc lập năm 1945. Nhân gian Phật giáo là đạo Phật của người thế gian, đạo Phật của người đời, khác với sinh hoạt chuyên tu Phật - Pháp của người xuất gia ở chùa.
 
Năm 1973 chúng ta có sách Đạo Phật áp dụng vào đời sống hàng ngày, sách do hai thầy Huyền Quang và Nhất Hạnh viết chung. Tác phẩm được các tác gỉa xem là một cương lĩnh cho một đạo Phật nhập thế. Là rường cột, là kim chỉ nam cho việc đem đạo giải thoát áp dụng vào đời sống hàng ngày của giới cư sĩ tại gia. Một thứ đạo Phật được đại chúng hóa, xã hội hóa từ cái gốc của đạo Phật vốn chỉ được thực hành trong giới Tăng sĩ ở chùa sao cho phù hợp với đời sống hàng ngày của người đời. Họ có thể là người nội trợ, công chức, nhà buôn, nhà văn, nghệ sĩ, sinh viên, nông dân, hay người lính chiến v.v... Đó là Phật giáo nhập thế.
Giữa cuốn Đạo Phật áp dụng vào đời sống hàng ngày, và loạt bài Nhân gian Phật giáo trên tuần báo Đuốc Tuệ năm 1935-1945 có sự liên hệ, chứng tỏ có một sự tiếp nối.

Người khởi xướng phong trào Nhân gian Phật giáo Việt Nam là học giả kiêm tiểu thuyết gia Nguyễn Trong Thuật, hiệu Đồ Nam Tử. Ông sinh năm 1891, mất tại Hà Nội ngày 19 tháng Giêng năm Mậu Tý, tức ngày 28/2/1948. Tác phẩm Quả dưa đỏ là quyển tiểu thuyết đầu tay của ông được Hội đồng kiểm duyệt Hội Khai Trí Tiến Đức liệt vào giải nhất. Tác phẩm thứ hai được nhiều người ưa thích là loạt truyện kể về Cô con gái Phật hái dâu đăng trường kỳ trên tờ Đuốc Tuệ. Tiếc thay, truyện Cô con gái Phật hái dâu còn đang dang dở thì Tuần báo Đuốc Tuệ bị đình bản đột ngột nên chưa được in thành sách. Có thể nói ông là một trong số rất ít người Việt Nam viết tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ vào thời ấy ở ngoài Bắc. Bên cạnh văn chương nghệ thuật, ông còn là cây bút Phật học sáng giá trên các tạp chí Việt ngữ thời đó, những bài như : Bình luận về sách Khóa hư (1933), Phật giáo tân luận (1934) đăng trên tờ Nam Phong do Phạm Quỳnh làm Chủ bút rất được nhiều người chú ý.
Đầu năm 1934, cùng với những cây bút chủ lực của tạp chí Nam Phong như các ông Lê Dư, Nguyễn Hữu Tiến..., Nguyễn Trọng Thuật về cộng tác với nhóm Phật học Tùng thư do Thiền sư Trí Hải đứng đầu. Tháng 8 cùng năm nhóm Phật Học Tùng Thư hợp cùng một số Tăng sĩ Hà Nội thành lập Hội Phật Giáo Bắc Kỳ. Tháng 2/1935, Nguyễn Trọng Thuật được Hội đề cử làm Thư ký Ban Khảo cứu và giảng diễn Phật học do Trần Trọng Kim đứng đầu, và sau đó là Thư ký Ban Biên tập tờ Đuốc Tuệ.
Sức viết của ông rất khỏe, chỉ trong 5 năm, ông đã viết ngót 60 bài (không tính các bài chuyên khảo, bài dịch) trên mọi lĩnh vực từ nghị luận, lịch sử Phật giáo đến truyện dài đăng nhiều kỳ. Trong đó nổi trội nhất là loạt bài : Tinh thần Phật giáo đối với thanh niên ngày nay; Tinh thần nhân gian Phật giáo của Việt Nam xưa; Chủ nghĩa quần chúng giải thoát của đạo Phật; Câu chuyện đạo Phật với việc làng; Đạo Phật rất cần cho vấn đề kinh tế ngày nay..., và chủ đề Phật hóa nhân gian đã trở thành chuyên mục không thể thiếu của tờ Đuốc Tuệ ngay từ những số đầu tới số cuối. Theo ông nhân gian Phật giáo đối với đạo Phật là phát biểu những điều chân chính có quan thiết đối với đời người để làm lợi ích cho đời, chứ không có gì là khác lạ.
Chúng ta được biết rằng danh từ Nhân gian Phật giáo xuất phát lần đầu bên Trung Hoa vào đầu thập niên 1930. Tuy có mặt sau người bạn láng giềng, nhưng thực chất đạo Bụt Việt Nam đã thực sự đi vào xã hội đời thường chậm nhứt là từ đầu thế kỷ thứ XI. Rõ nhất là từ triều đại nhà Lý trở về sau. Điển hình là tiểu thuyết mang tên Cô con gái Phật hái dâu của tác giả Nguyễn Trọng Thuật,nói lên sự dấn thân vào đời của đạo Bụt Việt Nam trước đạo Bụt Trung quốc rất xa. Nếu nghiên cứu kỹ hai triều đại Lý - Trần chúng ta cũng sẽ thấy rất rõ điều đó. Cô con gái Phật hái dâu là khuôn mẫu của việc đem đạo Bụt áp dụng vào đời sống hàng ngày. Người ta thấy đạo Bụt thời ấy có một ảnh hưởng lớn ở trong xã hội, trong phong tục, trong văn hóa, trong nhân gian, và ngay ở trong chính trị.
Cô con gái Phật tức là nữ Phật tử. Hái dâu là đi hái dâu về để nuôi tằm. Cô tên Ỷ Lan quê làng Siêu Loại (Bắc Ninh) rất xinh đẹp, rất thùy mị, được nuôi dưỡng trong đạo đức của Phật giáo nên thấm nhuần tư tưởng và hành trì của Phật giáo. Cô hiểu thấu tất cả các nỗi khổ, những khó khăn của dân chúng ở đồng quê. Cô được được vua Lý Thánh Tông yêu quý đem về cung và phong làm Nguyên phi. Nhờ tấm lòng nhân hậu và hiểu biết Nguyên phi Ỷ Lan được vua cho phép dự vào việc triều chính. Ỷ Lan đã đưa ra những tư tưởng rất thiết thực, để giúp dân quê thoát khỏi vòng nghèo đói, áp bức và bất công. Vua Lý Thánh Tông đã nghe theo làm một cuộc cách mạng nông thôn rất hay. Ỷ Lan có kiến thức rất vững chãi về tình trạng dân quê. Ví dụ nàng biết ở miền quê có những bọn ăn trộm trâu để làm thịt và ăn nhậu với nhau. Khi một người nông dân mất trâu thì không thể nào sinh sống được! Con trâu tương đương với chiếc máy cày để cày ruộng ngày nay. Mất trâu người nông dân sẽ chết đói, mà có thể những người khác cũng chết đói theo, tại vì trâu dùng để cày cho ruộng mình, nhưng cũng để cày ruộng cho người khác. Cho nên Ỷ Lan đã đề nghị những biện pháp để trừng trị, để ngăn cản không cho bọn ăn cắp trâu hoành hành.
Thời đó còn có những nhà nghèo phải bán con trai hay gái. Nhà họ nghèo quá, không có tiền để nuôi con, bất đắc dĩ họ phải bán con của mình cho những nhà giàu để làm đầy tớ. Một chế độ gần như là chế độ nô lệ ở Tây phương. Tuy cũng gọi là con, cũng nuôi trong nhà, nhưng không được đối xử bình đẳng như là con đẻ. Tuy gọi là con nuôi, nhưng kỳ thực là một thứ đầy tớ! Gặp những gia đình có nhân đức, có tình thương thì những đứa con nuôi này được đối xử tử tế. Nhưng gặp phải những nhà không nhân đức thì mình chỉ đóng vai của những người đầy tớ, và là đầy tớ suốt đời! Ỷ Lan đã đề nghị vua Lý Thánh Tông xuất tiền kho ra, chuộc những người đầy tớ này khi họ đến tuổi trưởng thành, rồi tìm cách dựng vợ gã chồng cho họ. Đó là những biện pháp xã hội mà Nguyên phi Ỷ Lan đã thực hiện.
Nguyên phi cũng rất giỏi về việc triều chính. Có một lần vua Lý Thánh Tông đem quân dẹp loạn ở biên thùy giữa Chiêm Thành và Đại Việt. Lâu quá mà không thành công, cho nên vua rút quân về. Khi về chưa đến nơi thì nghe đồn ở nhà Nguyên phi làm việc rất giỏi. Tổ chức triều đình rất hay, không có vấn đề gì cả. Nhà vua mắc cỡ, nên quay trở lại biên giới! Và lần này thì vua thành công trong việc thiết lập an ninh và hòa bình ở biên giới.
Đó là những câu chuyện có thật về cuộc đời của Nguyên phi Ỷ Lan mà Nguyễn Trọng Thuật đã kể lại trong một cuốn tiểu thuyết. Nguyễn Trọng Thuật đã chủ động mạnh mẽ cho việc đem đạo Phật vào đời sống hàng ngày, làm mới cuộc sống nông thôn bằng tinh thần xã hội hóa Phật giáo.
Ông cũng là người đầu tiên đề nghị tổ chức Lễ cưới trong chùa. Trong bài luận Lễ kết hôn trước cửa Phật, Nguyễn Trọng Thuật nhận định hôn lễ là lễ văn để làm tôn trọng vẻ vang cho cái sống của mình... Người ta trong một đời duy có hôn lễ là quan thiết đến bản thân hơn cả. Ông cho rằng ở Việt Nam, hôn lễ chịu ảnh hưởng cả Nho giáo lẫn Đạo giáo. Theo đó, lễ bái yết gia tiên hai nhà là theo Nho giáo đối với quan niệm gia tộc, phụng tiên tư hiếu, thực là biết ơn, chịu mệnh một cách chu đáo, có nghĩa lý thiết thực thì nên giữ. Còn lễ tế tơ hồng là theo thuyết số mệnh của phái đạo sĩ, cám ơn vị thiên tiên đã xe duyên cho nên vợ nên chồng. Xét ra nó chỉ như cái cách đem quà biếu người làm mối mà thôi, không có nghĩa lý gì đáng làm giáo hóa, thì nên bỏ. Ông nhấn mạnh: Song ngoài cái lễ bái yết gia tiên ra không có lễ gì nữa, thì cái quan niệm kết hôn của người đời chỉ loanh quanh trong cái tư tưởng nối dõi tông đường của một nhà, e không khỏi còn hẹp hòi lắm.
Ông đề nghị: Nay nhân phong trào Chấn hưng Phật giáo đang hưng thịnh, tiện dịp ta hãy nên cử hành lễ kết hôn trước cửa Phật... Việc đem lễ kết hôn vào cửa Phật này tuy là việc mới, nhưng tôi quyết không phải là một việc cưỡng ép gì. Ông đề nghị một nghi thức kết hôn gồm có tấu văn và huấn từ của một vị Tăng sĩ làm giới sư hướng đạo cuộc lễ. Trước Tam bảo vị giới sư nhắc nhở cặp tân hôn phải nhớ đạo lý Tứ ân của Phật dạy mà đền đáp công ơn cha mẹ, ơn đất nước, ơn sư trưởng và ơn chúng sinh. Thể hiện qua hai câu đối : Hiếu mẹ cha, ân đất nước, đạo Tứ ân đã dạy bảo đủ luân thường ; Chồng kính ái, vợ thuận tùng, lễ Lục phương càng ân cần về gia đạo.
Ngày nay nếu chúng ta có những đám cưới tổ chức lễ tại chùa, là chính nhờ ngày xưa đã có những bậc đàn anh đề xướng chuyện đó.

Đạo Phật đi vào cuộc đời

Những sự kiện lịch sử khởi đi từ cuộc chấn hưng Phật giáo những năm 1920, với những tác phẩm văn học sử như Quả dưa đỏ, Cô con gái Phật hái dâu ;những bài nghị luận, những bài đối thoại như : Nhân gian Phật giáo, Phật hóa nhân gian, v.v... xuất hiện trên các tạp chí Phật giáo thời bấy giờ như Viên Âm, Đuốc Tuệ, Từ Bi Âm, Pháp Âm, Quan Âm, Tam Bảo, Tiếng Chuông Sớm, Duy Tâm, Tiến Hóa đã hun đúc tâm hồn cậu bé chưa đầy mười tuổi. Khi lớn lên cậu bé đi tu trở thành một thanh niên Tăng với hoài bảo tiếp bước người xưa đem đạo Bụt vào đời. Nhưng rồi người thanh niên Tăng ấy phải chứng kiến những biến cố tàn khốc trong cuộc chiến tranh giành độc lập; chiến tranh ý thức hệ; rồi đất nước qua phân. Người thanh niên Tăng nay đã trở thành một vị Giáo thọ trẻ vững vàng về kiến thức Phật học lẫn tuệ giác hiểu-thương và tương tức. Hoài bảo chấn hưng Phật giáo và hệ lụy do chiến tranh gây ra đã là một trong những động lực chính để vị Giáo thọ trẻ phát tâm dũng mãnh quyết làm mới đạo Bụt, quyết tiếp nối các bậc đàn anh nguyện đem đạo Bụt vào đời và xây nền cho một đạo Phật dân tộc. Vị giáo thọ trẻ đó chính là Thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Trong số cả triệu người Bắc di cư vào Nam đa số là Công giáo, nhưng cũng có một số Phật tử. Các Phật tử di cư đã thành lập hội Việt Nam Phật Giáo Bắc Việt tại miền Nam. Năm 1954 đồng bào di cư có xuất bản mấy tờ báo hàng ngày, trong đó có tờ Dân Chủ, do ông Vũ Ngọc Cát làm Chủ nhiệm. Dân Chủ là một tờ báo của đồng bào miền Bắc, và có khuynh hướng Phật giáo. Ông Vũ Ngọc Cát đã đề nghị thầy Nhất Hạnh viết loạt bài cho chủ đề Phật giáo mới, thứ Phật giáo có thể đưa đường dẫn lối cho quốc dân trong giai đoạn nữa tối nữa sáng này. Lúc đó thầy Nhất Hạnh đã là Giáo thọ đang dạy ở trường Phật học đường Nam Việt, một cơ sở do Thầy và Thiền sư Trí Hữu cùng sáng lập năm 1949 tại chùa Ứng Quang, sau này đổi tên thành chùa Ấn Quang.
Thế là trên mặt báo Dân Chủ xuất hiện loạt bài lấy tên là Đạo Phật qua nhận thức mới. Theo Thầy qua nhận thức mới thì qua, nhưng ý chính vẫn là đạo Phật như thường. Nhờ loạt bài này mà tờ báo bán rất chạy. Chủ đề Đạo Phật qua nhận thức mới đã trở thành chủ đề chính của tờ báo và nó được đưa lên trang nhất với hàng tựa lớn in màu đỏ để gây chú ý. Nó chứng tỏ cho sự khao khát của các tầng lớp xã hội thời bấy giờ cho một hướng đi của dân tộc. Một hướng đi phi Tư bản, phi Cộng sản. Một hướng đi không đối kháng và có thể ôm ấp được cả người theo chủ nghĩa Cộng sản và người theo chủ nghĩa Tư bản. Trong những loạt bài đó Thầy đã nói về một thứ đạo Bụt mới, như là con đường hướng dẫn đất nước thoát khỏi giai đoạn tranh tối tranh sáng và lộn xộn này. Trong đó có một bài nói về Đạo Phật và chủ thuyết Nhân vị, Thầy muốn cho mọi người thấy rằng : Đạo Bụt khác với chủ thuyết Duy Vật như thế nào, khác với chủ thuyết Cộng sản như thế nào, khác với chủ thuyết Duy Thần như thế nào. Một bên là Duy Thần, một bên là Duy Vật, còn đạo Bụt là duy gì? Đó là thành quả của những tư duy và thiền quán của vị Thiền sư bắt đầu được diễn ra thành lời trên mặt báo Dân Chủ vào năm 1954.
Năm 1956, thầy Nhất Hạnh được Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam giao làm Chủ bút tờ báo của Tổng Hội, tức là tờ Phật Giáo Việt Nam. Trong tờ báo này có loạt bài gọi là Để đi đến một nền Phật giáo dân tộc.Ngay số đầu của tờ báo Phật Giáo Việt Nam đã có một bài tựa là Hướng đi của người Phật tử Việt Nam.Trong bài này người ta được đọc rằng hướng đi đó không phải là hướng đi của Duy vật biện chứng pháp, mà cũng không phải là hướng đi Duy thần, dựa trên thần linh. Mình không tin vào chủ thuyết Duy vật, không tin vào một lực lượng thần linh, mà phải tin vào chính con người của mình, tin vào trí tuệ, từ bi ở trong lòng của mình. Theo Thầy hồi đó làm tờ báo giống như là dẫn một đạo binh ra trận. Mặt trận này là mặt trận tư tưởng, mặt trận tư duy để tìm một hướng thoát cho dân tộc, cho người trẻ. Đi tìm một niềm tin đích thực mà có thể đưa mình thoát khỏi gọng kìm của thế đấu tranh giữa chủ nghĩa Tư bản và chủ nghĩa Cộng sản. Bên cạnh tờ báo Phật Giáo Việt Nam còn có những tờ báo khác như là tờ Liên Hoacủa Giáo Hội Tăng Già do Hòa thượng Đôn Hậu làm Chủ nhiệm, cũng mang những bài viết có cùng một đường hướng.
Vào khoảng năm 1960, những bài viết về Đạo Phật đi vào cuộc đời xuất hiện trên các tờ báo, trong đó có những bài như là Đức Phật của thế kỷ chúng ta như thế nào? Giáo lý, thực tập, hành động, thái độ với xã hội như thế nào? v.v... Đạo Phật đi vào cuộc đời là một danh từ mới, hơi dài dòng, nhưng nó chỉ có nghĩa làNhân gian Phật giáo mà thôi. Đi vào cuộc đời tức là nhập thế. Một bên chịu ảnh hưởng văn pháp Hán, một bên diễn âm Nôm hiện đại rõ ràng và dễ hiểu. Loạt bài này đã được gom lại và in thành sách cùng tựa năm 1964.


Đạo Bụt dấn thân
Hiện nay trên thế giới, chúng ta có danh từ Engaged Buddhism,tức Đạo Bụt dấn thân là vì năm 1960 chúng ta đã có danh từĐạo Phật đi vào cuộc đời, và năm 1935 chúng ta đã có danh từ Nhân gian Phật giáo. Hiện nay ở Hoa Kỳ có một tổ chức gọi làBuddhist Peace Fellowships nghĩa là Phật giáo phục vụ cho hòa bình, là dấn thân cho vấn đề hòa bình. Đó cũng là con đẻ củaNhân gian Phật giáo, mà đó cũng là con đẻ của Đạo Phật đi vào cuộc đời. Tại Âu châu cũng có sự có mặt của tổ chức đó, một Network of Engaged Buddhism. Thành ra chữ Engaged Buddhism có nguồn gốc ở Việt Nam, có nguồn gốc trong quá trình tìm kiếm, học hỏi, tranh đấu để tìm ra một con đường thoát, đưa quốc gia, dân tộc mình thoát ra khỏi gọng kìm của sự tranh chấp giữa hai ý thức hệ.
Trong cuộc chiến tại Việt Nam, không những người ta đưa vào hai ý thức hệ để chống nhau. Người ta còn đưa vào võ khí của cả hai khối! Người Việt trở nên nạn nhân của sự tranh chấp vừa ý thức hệ, vừa võ khí của hai khối lớn trên thế giới. Cho nên đạo Phật ở Việt Nam giống như là một bông sen nở trong lò lửa, lò lửa của chiến tranh, của khổ đau. Vì vậy mà năm 1966 thầy Nhất Hạnh đã viết cuốn Hoa sen trong biển lửa Thầy đã sử dụng tiếng Anh cho nguyên bản - Vietnam: Lotus in a Sea of Fire. Sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đức, Ý, Nhựt, v.v... Sách được tái bản nhiều lần trong đó bản tiếng Việt phải đợi tới lần tái bản thứ tư mới có. Việt Nam hồi đó là một biển lửa, và đạo Phật vùng vẫy thoát ra như một đóa sen. Hình ảnh đó là hình ảnh của một thiền sư đời Lý đề xướng: Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận, Liên phát lô trung thấp vị càn. Tức là viên ngọc được đốt cháy ở trên đỉnh núi mà sắc của nó vẫn còn tươi mát - Bông sen nở trong lò lửa mà sắc vẫn còn tươi. Đó là cái kim cương tâm, cái bồ đề tâm của người Phật tử.
Năm 1964, Thầy Nhất Hạnh cho xuất bản thêm một cuốn sách mới tên là Đạo Phật hiện đại hóa, tiếng Anh dịch làActualised Buddhism trong lúc Thầy đang vận động để thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh. Cũng như lần trước, Thầy khẳng định : Đạo Phật vẫn là đạo Phật, nhưng chúng ta làm cho hiện đại lại để có thể đáp ứng được những nhu cầu mới, chữa trị được những nỗi đau khổ mới, gọi là Đạo Phật hiện đại hóa. Nó cho chúng ta thấy được sự khế hợp tuyệt vời giữa và  trong cuộc hành trình làm mới đạo Bụt của Thầy.

Theo Thầy, tất cả những hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam từ 1964 trở về sau, đều được hướng dẫn bằng tư tưởng đạo Phật hiện đại hóa. Cho nên những danh từ như Phật giáo và dân tộc, cũng được sản xuất từ những gốc gác đó. Nếu chúng ta có trườngThanh niên phụng sự xã hội, đào tạo cán bộ đưa về nông thôn để phát triển đời sống nông thôn, để cứu trợ nạn nhân của chiến tranh, của thiên tai, đó cũng là thực tập theo đường hướng của Đạo Phật hiện đại hóa, Đạo Phật đi vào cuộc đời.Trong số đó có Dòng tu Tiếp hiện Thầy cho ra đời cũng vào năm 1964 với 14 giới điều được tinh lọc từ giáo lý Tứ Đế và con đường Bát Chánh, còn được gọi là 14 phép thực tập chánh niệm giúp cho cả hai giới xuất sĩ và cư sĩ có đủ năng lực niệm, định, tuệ để có thể đứng vững trên con đường phụng sự. Tính đến nay Dòng tu Tiếp hiện đã phát triển rộng khắp trên thế giới giúp hướng dẫn tu học cho hàng ngàn tăng thân thực hành Phật đạo trong đời sống hàng ngày. Chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh này trong kinh Duy Ma Cật (Vimalakirtinirdesa), một trong những kinh xuất hiện khá sớm của hệ tư tưởng Phật giáo Đại Thừa. Kinh viết rằng :
Có vị Trưởng giả tên là Bảo Tích bạch với Bụt rằng : Bạch đức Thế Tôn, năm trăm trưởng giả tử chúng con đều đã phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, cúi mong Ngài chỉ dạy cho chúng con những hạnh thanh tịnh của các vị Bồ tát. Bụt dạy rằng: Này Bảo Tích! Tất cả chúng sanh là cõi Bụt của Bồ tát. Vì sao? Bồ tát tùy chỗ giáo hóa chúng sanh mà lãnh lấy cõi Bụt, tùy chỗ điều phục chúng sanh mà lãnh lấy cõi Bụt, tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào vào trí tuệ của Bồ tát mà lãnh lấy cõi Bụt. Vì sao thế? Vì Bồ tát chứng đạt được cõi Bụt thanh tịnh đều vì muốn làm lợi ích cho chúng sanh chứ không phải để sống một cuộc đời độc lập, giải thoát, xa lìa sự đau khổ của chúng sanh.
Rõ ràng đây là hình ảnh của đạo Bụt đi vào đời.
Nếu có người hỏi : Thế nào gọi là Engaged Buddhism? Thế nào gọi là Đạo Phật đi vào trong cuộc đời?Người ta sẽ nhận được câu trả lời từ thầy Nhất Hạnh rằng : Cái tự thân của đạo Phật là đi vào cuộc đời rồi. Nếu không đi vào cuộc đời thì đâu còn gọi là đạo Phật nữa? Điều này rất dễ hiểu. Chúng ta đã học Tứ Diệu Đế, chúng ta đã học Bát Chánh Đạo, chúng ta biết rằng Tứ Đế là một giáo lý khuyên chúng ta, chỉ dẫn cho chúng ta đối diện trực tiếp với khổ đau mà không phải chạy trốn khổ đau. Sự thật thứ nhất là sự có mặt của đau khổ, và mình phải trực tiếp đối diện với đau khổ đó. Nếu không hiểu được đau khổ thì không thể tìm được con đường thoát khổ. Vậy thì ngay trong sự hình thành của Phật giáo ta đã thấy cái tính chất dấn thân rồi. Vì nếu không là dấn thân, nếu không phải là nhân gian, nếu không phải là đi vào cuộc đời, thì đạo Phật đâu còn là đạo Phật nữa? Vậy thì tại sao đã là đạo Phật rồi mà còn phải thêm chữ dấn thân, phải thêm chữ nhập thế nữa, phải thêm chữ engaged nữa? Tại vì sao? Là tại có những người nghĩ rằng đạo Phật là chỉ dành cho những người tu ở trong chùa thôi! Vì vậy cho nên phải dùng chữ engaged cho họ hiểu. Khi người ta đã hiểu rồi thì mình bỏ chữ engaged đi cũng được, bỏ chữ dấn thân, bỏ chữ nhập thế đi cũng được. Đó là câu trả lời mà chúng ta thường sử dụng.
Đạo Bụt mà nhiều người đang thực tập ở Làng Mai là sự tiếp nối của đạo Bụt dấn thân, đạo Bụt đi vào cuộc đời, đạo Bụt với tâm nguyện chữa trị những vết thương hiện có của con người thời đại, đạo Bụt với tâm nguyện tìm ra một lối thoát cho những khổ đau có thật của thế hệ chúng ta. Không phải là thứ đạo Bụt tìm sự trốn tránh những khó khăn và đau khổ của cuộc đời.

Khổ đau hiện thực

Đạo Bụt có thể đi vào đời mà không bị oen ố trần đời. Đi vào đời bằng thế cách nào đó mà vẫn giữ được phẩm chất của đạo Bụt nguyên thủy. Để làm được việc đó đạo Bụt cần phải được làm mới sao cho vừa khế hợp căn cơ của con người thời đại, cũng vừa khế hợp với giáo lý tông truyền. Thầy Nhất Hạnh lý giải như sau : Chúng ta được dạy rằng tinh hoa của Phật pháp là tuệ giác về vô thường và vô ngã. Theo tuệ giác này thì bất cứ một thực tại sống nào cũng phải luôn luôn biến chuyển. Phải biến chuyển nó mới có thể tồn tại, có thể sinh động được. Nếu không biến chuyển, thì nó bắt đầu chết. Con người cũng vậy. Thành ra vô thường là nền tảng của sự sống, và nếu đạo Bụt nói tất cả đều là vô thường thì đạo Bụt cũng vô thường. Đạo Bụt phải vô thường thì đạo Bụt mới có thể còn là đạo Bụt. Cũng như một cây bắp, muốn còn là cây bắp thì phải tiếp tục mọc lên. Không mọc nữa thì cây bắp sẽ chết, và không còn là cây bắp nữa. Cho nên vô thường rất là quan trọng, vì vậy ta thấy rằng đạo Bụt phải thay đổi. Thay đổi không phải là để không còn là đạo Bụt nữa mà thay đổi để có thể mãi mãi vẫn còn là đạo Bụt. Vì vậy đạo Bụt phải khế cơ, nhưng đồng thời cũng phải khế lý. Vì vậy cho nên trở về với nguồn suối của đạo Bụt Nguyên thủy là chuyện rất quan trọng.
Và đây là cái thấy của Thầy về hoàn cảnh hiện thực của xã hội thời nay : Đứng về phương diện khế cơ chúng ta nói đạo Bụt phải đáp ứng được, phải giải quyết được những khổ đau hiện thực. Những khổ đau hiện thực đó, ta có thể nêu ra một ví dụ: Sự không có niềm tin.
Hiện nay có rất nhiều người trẻ không biết tin vào cái gì. Vì vậy họ sống như những cô hồn, không thấy gì đẹp, không thấy gì lành, không thấy có gì thật hết. Toàn là xấu xa, toàn là giả dối, toàn là ác độc. Họ không có một cái gì để nương theo hết. Đó là căn bản của niềm đau lớn nhất của thời đại.
Khi họ nhìn vào gia đình, họ thấy gia đình tan vỡ, họ thấy bố mẹ không có hạnh phúc, cha và con không có hạnh phúc, họ không tin vào gốc gác gia đình nữa. Không tin vào gia đình thì việc họ sống như một cô hồn là không thể nào tránh được.
Khi nhìn vào nhà thờ hay chùa, họ thấy nhà thờ hay chùa trở thành một nơi rất xa lạ với họ. Khi đến họ thấy lạc lõng. Những giáo lý của nhà thờ, của chùa dạy, không đáp ứng được những điều ao ước, những cái thao thức, những khổ đau của họ. Những pháp môn mà chùa và nhà thờ dạy, có tính cách hình thức, không làm cho họ thảnh thơi, không làm cho họ an lạc. Có khi nhà thờ trở nên một nơi tranh chấp danh lợi. Nhiều khi nhà chùa trở thành một chỗ tranh dành danh lợi. Tranh nhau làm hội trưởng, phó hội trưởng, thủ quỹ, thư ký. Cho nên người trẻ không tin vào nhà thờ, không tin vào chùa. Do đó mà khủng hoảng về đức tin cũng là một niềm đau khổ của thời đại.
Làm thế nào để khôi phục được niềm tin? Chúng ta thấy ngay ở các nước Xã hội Chủ nghĩa. Ngày xưa người ta còn tin vào chủ thuyết Marxisme, chủ thuyết Cộng sản. Bây giờ người ta không tin nữa. Nhưng nếu không tin vào chủ thuyết Marxisme thì phải tin vào một cái gì khác.
Cái khác đó là gì? Đảng Cộng sản Trung quốc mặc dù từng tự hào với đường lối Cộng sản theo kiểu cách riêng của họ. Đó là Cộng sản theo chủ nghĩa Maoism. Mặc dù vậy Maoism cũng từ Marxisme mà ra. Cho nên họ rất sợ trước sự phá sản của chủ nghĩa Marxisme xảy ra tại Nga kéo theo sự sụp đổ đồng loạt tại các nước Cộng sản Đông Âu. Nó bắt buộc người Cộng sản Trung quốc phải tìm cho ra cái gì khác để thay thế trước khi quá muộn. Cái khác mà họ thấy được là Khổng giáo. Nhưng là một thứ Khổng giáo mới - Khổng giáo độc tài theo đường lối Dân tộc chủ nghĩa cực đoan(Ultra-nationaliste). Đồng lúc họ phát động phong trào làm giàu, người người làm giàu, nhà nhà làm giàu theo tư tưởng của Đặng Tiểu Bình với chủ trương : Mèo trắng mèo đen gì cũng không sao miễn bắt được chuột là được. Thế là mọi người lao vào làm giàu, lao vào tiêu thụ như những con thiêu thân. Con người trở nên ích kỷ, sống chết mặc bây. Chủ nghĩa Cá nhân xuất hiện.
Thầy nói : Cá nhân chủ nghĩa (Individualism) trở thành tràn ngập. Chỉ lo cho mình thôi, vì vậy cho nên mình cứ tin rằng hạnh phúc là cái mà mình đi tìm kiếm riêng cho mình, mình không biết hạnh phúc là vấn đề tương tức. Nếu người kia không có hạnh phúc thì mình không thể nào có hạnh phúc được. Không có niềm tin thì không có tình thương. Khi mình đi theo cá nhân chủ nghĩa thì mình không có niềm tin, không có tình thương. Tại vì có thương thì mình có liên hệ tới người khác, và mình thấy hạnh phúc của người khác có liên hệ tới mình. Thấy vậy thì làm sao mình đi theo con đường cá nhân chủ nghĩa cho được?

Đối trị khổ đau
Thầy Nhất Hạnh chỉ cho chúng ta thấy rằng : Gia đình tan vỡ; nhà thờ và chùa đánh mất vai trò lãnh đạo ; cá nhân chủ nghĩa đưa tới hố ngăn cách giữa các thế hệ. Liên hệ tới vấn đề đó là chuyện nói và nghe, truyền thông giữa hai thế hệ trở thành khó khăn. Rồi đi đến những tệ trạng như rượu, ma túy, bạo động, tình dục, chiến tranh, ô nhiễm sinh môi, và cố nhiên là sự có mặt của vô số cô hồn sống ở chung quanh ta. Đó là những vấn đề có thật, những khổ đau có thật, những khó khăn mà chúng ta đang vấp phải.
Trong thời gian trường Thanh niên Phụng sự Xã hội, được thành lập ở Việt Nam, vào năm 1964, nhằm đáp ứng những khó khăn của xã hội Việt Nam thời đó, được coi như là đối tượng của sự hoạt động. Có bốn đối tượng, đó là: nghèo đói; bệnh tật; ngu dốt; và vô tổ chức. Bốn cái đó là bốn khía cạnh của cái gọi là kém phát triển. Thành ra mục đích của những sư chú, những sư cô, những thanh niên đến học và được đào luyện, là để đi về miền quê, tìm cách đối phó với bốn tai nạn lớn đó.
Khi bị bốn hung thần này đe dọa kiềm chế. Nhìn ra nước ngoài chúng ta thấy ở những nước gọi là phát triển họ không có nghèo đói, không có bệnh tật, không có ngu dốt, họ tổ chức rất khéo, và chúng ta muốn chạy theo họ, bắt chước họ.
Nhưng ngày nay, nhìn lại các nước gọi là đại phát triển như nước Mỹ hay các nước ở Âu châu, thì ta thấy gì? Ta thấy có một cái gọi là Xã hội tiêu thụ. Tiêu thụ rất ghê gớm! Chỉ nội ngày lễ Giáng sinh ở Âu Tây, những thức ăn, thức uống, những đồ chơi, những thứ người ta tiêu xài cho một ngày lễ thôi, cũng đã làm mình choáng mắt rồi. Một bữa ăn trưa của người bên này có thể lên tới cả trăm €. Trong khi chỉ cần 25 xu € đã có thể cung cấp một, hai bữa ăn rất bổ dưỡng cho một em bé ở các nước chậm tiến.
Tuy vậy ở Tây phương nghèo đói vẫn có mặt. Ở Pháp, ở các nước Âu châu, và tại Hoa Kỳ, họ có những giới nghèo mới. Xã hội tổ chức như thế nào mà ngay tại Pháp có những người không có ăn, không có mặc, không có nơi ngủ. Họ phải ngủ trên lề đường, ngủ dưới gầm cầu, lén lút trong công viên, chết lạnh vì không nhà. Thành ra trong xã hội gọi là đại phát triển đó, sự nghèo đói vẫn có, đi đôi với xã hội tiêu thụ.
Đứng về phương diện sức khỏe, thuốc men phát triển rất nhiều, và đời sống của con người kéo dài thêm ra. Người Âu châu và Mỹ châu càng ngày càng già, tại vì có nhiều thuốc nên họ sống lâu hơn. Các loại thuốc gọi là thuốc an thần, thuốc tâm thần càng ngày càng nhiều. Số người đang sống sót nhờ những thuốc an thần và thuốc tâm thần càng ngày càng đông. Nói rằng đã phát minh được rất nhiều phương pháp trị liệu bằng thuốc men, nhưng những bệnh mới lại phát sinh rất nhiều, trong đó có bệnh tâm thần, trầm cảm, sida... Số người tự tử, số người đi vào nhà thương điên ngày càng đông. Tuy người ta giàu có, nhưng chính vì sự tiêu thụ như vậy, ăn uống thừa thải như vậy, cho nên đã đưa tới rất nhiều bệnh tật.
Nhìn vào những mô thức của các nước phát triển mạnh, giàu có, các nước chậm tiến lại cứ nghĩ rằng đó là con đường của mình đang cần tới! Tuy vậy, nếu biết rõ những khổ đau mới, và chất lượng hạnh phúc trong các xã hội đó, thì mình sẽ thấy rằng mình phải tìm con đường khác nếu mình không muốn gánh chịu những khổ đau cùng một chất liệu mà các nước gọi là quá phát triển đang đi qua.
Đạo Bụt đối trị với những niềm đau khổ này như thế nào? Tất cả những khổ đau đó, tất cả những cái khó khăn đó, chúng ta phải quán chiếu, chúng ta phải coi là cái khổ đế của chúng ta, và chúng ta phải hiểu được bản chất của những khổ đau đó thì chúng ta mới tìm ra được con đường thoát, gọi là đạo đế. Chúng ta chỉ có một con đường là phải biết cách ứng dụng giáo lý Tứ Đế vào đời sống hàng ngày.
Bằng vào sự quán chiếu sâu trên căn bản giáo lý Tứ Đế, thực tập phép Quán Niệm Hơi Thở, chế tác năng lượng Niệm - Định - Tuệ, ôm ấp chuyển hóa khổ đau trong thân và trong tâm của tự thân. Một khi biết cách chế tác ra năng lượng chánh niệm giúp chuyển hóa khổ đau của chính mình khi đó mình mới có thể giúp được người khác chuyển hóa khổ đau của họ. Đó là một trong những cách áp dụng đạo Bụt vào đời sống hàng ngày.
xxx
Thập niên 1960 chúng ta có dòng tu Tiếp Hiện, có Đạo Phật hiện đại hóa làm phương châm hành động cho trường Thanh niên phụng sự xã hội. Ngày nay chúng ta có Viện Phật Học Ứng Dụng ở châu Âu và châu Á. Chúng ta có phong trào Wake up cho người trẻ thực hành Năm giới quý báu (Làng Mai biên soạn) vào đời sống hàng ngày, là sự tiếp nối của Trường Thanh niên phụng sư xã hội xưa kia. Chúng ta có chương trình Đạo đức học ứng dụng cung cấp phương pháp giảng dạy và thực hành cho giới giáo chức và học sinh tại các trường phổ thông trung, tiểu học ở nhiều nước trên thế giới, v.v... Thế nên khi chúng ta tiếp cận được thứ đạo Bụt đang được thực tập tại các trung tâm Làng Mai trên thế giới trong ba mươi bốn năm qua. Chúng ta biết đó là thứ Nhân gian phật giáo, là Đạo Phật đi vào cuộc đời, Đạo Phật hiện đại hóa, Đạo Phật dấn thân, Đạo Phật ứng dụng. Chúng có sự liên thông với nhau, tuy có nhiều tên gọi khác nhau nhưng tất cả đều là một. Vì chúng xuyên suốt từ đạo Phật nguyên thủy tới đạo Phật hiện đại. Chúng ta chỉ cần biết cách áp dụng các giáo pháp tông truyền một cách khế hợp vào đời sống của từng thời đại là đã có thể chế tác được an vui hỷ lạc cho mình và cho người rồi.

Chân Minh
Paris, ngày đầu năm 2016.

  • Nội dung chủ yếu của bài này được biên soạn từ pháp thoại Lịch sử đạo Bụt đi vào cuộc đời của Thiền sư Thích Nhất Hạnh,và một ít trích dẫn cùng tham khảo từ các kinh sách: Bồ tát tại gia Bồ tát xuất giaViệt Nam Phật giáo sử luận III của cùng tác giả. (Giáo sư Nguyễn Lang, tác giả bộ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận là một bút danh khác của thầy Nhất Hạnh).

Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc

Khi đến đảo ngọc bạn nên tham quan ngôi Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc hay còn gọi là Chùa Hộ Quốc là một trong những công trình nằm trong dự án Khu du lịch tâm linh có diện tích hơn 110ha (diện tích chùa chiếm khoảng 12%) thuộc ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
chua thien vien truc lam phu quoc
Chùa được khởi công đồng bộ với hơn 1000 người làm liên tục trong vòng 14 tháng, kinh phí xây dựng lên tới hơn 100 tỷ đổng (bao gồm cả kinh phí làm đường) được kêu gọi từ các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đóng góp.
Tuy nằm trong cùng hệ thống “Thiền Viện Trúc Lâm” nhưng kiến trúc có chút khác biệt so với các Thiền viện nơi khác bởi chùa được dựng hoàn toàn từ các cột “gỗ lim” nên chiều cao của các gian cũng bị giới hạn theo chiều cao của cột gỗ. Ngoài ra trong chùa cũng có ban thờ Đức Ông giống như các chùa ở Bắc Bộ.
Ngôi chùa lớn nhất đảo Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc là một tổng thể kiến trúc vừa hùng vĩ, lại tinh tế, giao hoà với thiên nhiên, trời biển. Hàng năm, ngôi chùa mang đậm dấu ấn triều đại nhà Lý và nhà Trần thu hút hàng ngàn Phật tử và du khách đến hành hương và chiêm bái.
chua thien vien truc lam phu quoc

Lịch sử hình thành Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc

Ngôi chùa bắt đầu được xây dựng năm 2011 nằm trong dự án khu du lịch tâm linh với tổng diện tích của dự án là 110ha, chúa chiếm diện tích 12% trong tổng 110ha, được coi là một ngôi chùa lớn nhất tại đảo Phú Quốc và lớn nhất trong các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Sau 14 tháng thi công miệt mài thì công Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc chính thức khánh thành năm 2012, đoàn phật tử và du khách đến tham quan lễ Phật. Sau khi xây dựng xong tổng mức chi phí xây dựng chùa là 80 tỉ và đường giao thông đến chùa 20 tỉ. Đến2014 chùa đang được xây dựng các hạng mục phụ nhằm giúp phong cảnh chùa thêm mỹ quan thu hút nhiều du khách.
chua thien vien truc lam phu quoc
Dù chỉ mới xây dựng và khánh thành năm 2012, nhưng Chùa Thiền Viên Trúc Lâm Phú Quốc có kiến trúc cổ kính, chạm khắc tinh tế theo phong cách đình chùa thời nhà Lý và nhà Trần, thời đại mà Phật giáo phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam. Bước vào cổng tam quan, du khách sẽ được chiêm ngưỡng 18 pho tượng “La Hán” bằng đá được điêu khắc vô cùng tinh xảo. Bước qua dãy tam cấp cao hàng chục bậc, du khách sẽ thấy Đại Hùng Bảo Điện hiện ra vô cùng uy nghi. Từ Đại Hùng Bảo Điện nhìn ra, bên trái là tháp chuông, bên phải là tháp trống to đẹp tạo thành thế đối xứng, hài hòa với cảnh sắc núi non.
Đại Hùng Bảo Điện được xây bằng “gỗ lim” và đá nguyên thủy có độ bền từ 700 – 1000 năm. Chánh điện chia làm 3 gian: Ở giữa thờ Phật Thích Ca “niêm hoa vi tiếu, tay cầm đóa sen, gian bên trái là Bát Nhã Thành Tri thờ tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử , gian bên phải là Phổ Hiền Hạnh Nguyện, thờ tượng Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi. Khác với những ngôi chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm khác, Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc có thêm bàn thờ Đức Ông như các chùa ở đồng bằng Bắc Bộ. Các gian thờ đều được chạm khắc cầu kỳ, sơn son, thếp vàng lộng lẫy.
chua thien vien truc lam phu quoc

Làm sao đi đến Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc

Từ thị trấn Dương Đông bạn đi theo hướng về “Nhà tù Phú Quốc”, cách đường rẽ vào Bãi Sao khoảng 1km phía bên tay trái có một lối rẽ nhỏ, đó chính là đường lên Chùa Thiền Viện Trúc Lâm (Ở phía bên kia của đường rẽ lên chùa là Khu dân cư Suối Lớn). Trên đường có bảng chỉ dẫn vào theo con đường bê tông rộng hơn 6m.
Ngôi chùa tọa lạc tại ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, ngay trên đường đi Bãi Sao, Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc nằm tựa lưng vào núi, hướng mặt ra biển lớn mênh mông. Đường lên chùa quanh co, tuyệt đẹp với một bên là rừng núi xanh tươi, một bên là biển sóng dạt dào, phong cảnh hoang sơ mà nên thơ như đường lên tiên cảnh. Đặc biệt, những cung đường uốn lượn quanh co này càng thêm tuyệt đẹp lúc bình minh, khi mặt trời rọi những tia nắng đầu tiên xuống mặt biển, trên núi sương mới vừa tan.
chua thien vien truc lam phu quoc
Xe chạy vượt qua dốc núi, đường hơi quanh cong, ít xe qua lại đi khoảng 4km là đến với Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc. Có 2 đường lên chùa là đi thẳng và rẻ trái. Đường rẻ trái lên sau lưng chùa, đây là được nội bộ (bạn không nên đi theo con đường này).
Ngay từ ngoài cổng bước vào trong chùa nhìn 2 bên đường vào là 18 vị la hán được khắc bằng đá, mỗi bên với 9 vị la Hán trông rất trang nghiêm. Tiếp đó hiện ra trước mắt bạn là 2 lối lên bằng cầu thang. Ở phía giữa là thảm trỗ khắc với các họa tiết rồng, hoa sen.
chua thien vien truc lam phu quoc

Thiền viện trúc lâm Phú Quốc cảnh nhìn từ dưới lên

Nếu bạn đến thăm Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc vào những ngày mưa nên cẩn thận từng bậc cầu thang vào những cũng rất trơn. Đặc biệt đối với ai sợ độ cao thì hãy cẩn thận hơn nhé! Bước lên hết bậc cầu thang từ trên cao nhìn xuống khung cảnh rất tuyệt đẹp. Xa xa là biển nước trong xanh, bãi biển này được người dân địa phương gọi là Bãi Cây Da.
chua thien vien truc lam phu quoc
Đại lão HT.Thích Trí Quảng tặng Bằng tán dương cho các nhà hảo tâm đóng góp xây dựng chùa
Khi bước vào trong chùa là khung cảnh uy nghi. Chùa được thiết kế kiến trúc rất cổ kính. Du khách và phật tử đến viếng chùa, sau khi thắp hương lễ Phật, có thể đi dạo, nghỉ chân ngay bên những dãy hành lang mát rượi, ngắm cảnh núi non, trời biển hữu tình. Ngoài giờ nhật tụng, Chùa Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc thường mở nhạc thiền nhè nhẹ, du khách đến vãng cảnh chùa, nghe một khúc nhạc tịnh tâm, nghe tiếng kinh, lời kệ, hòa vào tiếng gió biển và mọi ưu phiền dường như đều tan biến tất cả.
Nguồn hoahaubichlien.wordpress.com

Hoa Hậu Bích Liên

Hoa hậu Bích Liên sinh năm 1965 được sinh ra và lớn lên tại thị trấn Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, Việt Nam. Bích Liên là con thứ bảy trong gia đình có chín anh chị em. Vào năm 1979, vì cuộc sống mưu sinh mà năm 12 tuổi cô đành từ biệt quê hương thân yêu của mình, cùng với bốn anh chị em sang định cư sống tại Wichita, Kansas, Hoa Kỳ.
Năm 1986, Hoa Hậu Bích Liên đã có một bước ngoặc lớn trong sự nghiệp của làm đẹp của mình khi cùng các bác dược sĩ nghiên cứu và cho ra đời Dòng dược Mỹ phẩm EV Princess, được rất nhiều khách hàng từ khắp nơi trên thế giới biết đến và ủng hộ nhiệt tình nhờ vào công dụng thần kỳ mà dòng sản phẩm này mang lại.

hoa hau bich lien
Hoa Hậu Bích Liên
Sự thành công của Hoa Hậu Bích Liên bắt nguồn từ việc cô hầu như là một khuôn mặt nữ rất gắn bó tiếp tay với các sinh hoạt cộng đồng người Việt: từ các chương trình văn nghệ, các buổi ra mắt sách, các Đại Hội tuyển lựa Hoa hậu, Hội Tết, Hội Xuân, các chương trình đấu tranh, các công tác xã hội từ thiện, đóng góp gây quỹ cứu trơ khắp nơi từ nhiều năm qua…. và kể cả việc đóng góp ủng hộ cho một số ứng cử viên tranh cử Việt Mỹ vào các chức vụ thành phố, tiểu bang, liên bang cũng như cho cả đương kim Tổng Thống Hoa Kỳ Goerge Bush. Hầu như nơi nào cộng đồng người Việt cần là có sự hiện diện và đóng góp của Hoa Hậu Bích Liên.
hoa hau bich lien phu nu caly
Hoa Hậu Bích Liên – Phụ Nữ CaLy
Hoa hậu Bích Liên luôn dành được sự quan tâm đặc biệt từ giới truyền thông và người hâm mộ. Sự quy mô của buổi khai trương và tham dự của hàng ngàn quan khách đa dạng đến từ nhiều lãnh vực khác nhau như quan chức chính quyền địa phương, chủ nhân cơ sở thương mại, nghệ sĩ, người mẫu, .v.v. đã một lần nữa chứng minh được uy tín của người nữ chủ nhân khả ái, Hoa Hậu Bích Liên. Với lịch trình làm việc dày đặc của cô ở Hoa Kỳ cũng như tại Việt Nam, đây là một cơ hội hiếm hoi để Hoa hậu Bích Liên và những anh chị em trong gia đình cô tiếp cận với những vị khách mời nổi tiếng trong nước và hải ngoại, cũng như hàng ngàn khách hàng đã và đang ủng hộ dòng sản phẩm EV Princess Cosmetics.

Thương hiệu EV Princess gắn liền với Hoa Hậu Bích Liên

Nếu Dược Mỹ Phẩm mang tên của cô (Elizabeth Võ) EV Princess được hàng triệu người biết đến thì quả không khó khăn để hàng triệu người ấy tiếp tục tin tưởng vào những “kỳ diệu” mà EV Princess sẽ mang đến với họ. Có lẽ Bích Liên đã hiểu được nguyên lý một người phụ nữ chỉ đẹp khi cái đẹp đó được xây dựng trên nền tảng chân thật. Cô đã không ngần ngại dùng chính tên mình để làm thương hiệu cho hệ thống cơ sở làm đẹp và hai dòng dược mỹ phẩm của mình với niềm tin “người thật, việc thật” sẽ góp phần cho sự thành công sau này. Và nhờ cái rất “thật” ấy mà những gì cô làm đã thành công vượt bật, có lẽ còn vượt xa hơn cả sự tưởng tượng của chính cô.
hoa hau bich lien thuong hieu ev princess
Hoa Hậu Bích Liên xây dựng thành công Thương hiệu EV Princess
Không phải chỉ vì cái đẹp bề ngoài đã mang cô đến với danh hiệu Hoa Hậu trong các cuộc thi sắc đẹp hay một vẻ đẹp tâm hồn để Cô chạm tay vào những mảnh đời bất hạnh, mà chính vì Bích Liên là người không ngừng vươn tới cái đẹp.
Hành trình vươn tới cái đẹp của Hoa Hậu Elizabeth Bích Liên xuất phát từ danh hiệu “Hoa Hậu Áo Dài” lần đầu tiên cô đạt được tại Kansas năm 1986. Tiếp bước theo sau đó, cô được vinh danh là Người Phụ Nữ Việt Nam Hải Ngoại tại Bắc Cali năm 1996, và liên tiếp đạt được các danh hiệu như: Hoa Hậu Phu Nhân California năm 2004, Hoa Hậu Công nương Á Châu USA tại California năm 2006 và gần đây nhất là Hoa Hậu Á Châu Thế Giới năm 2013. Nếu Bích Liên không có một vẻ đẹp tâm hồn, một tấm lòng nhân từ bác ái, được thấm nhuần qua ánh mắt, nụ cười, có lẽ cô không dễ dàng liên tục đăng quang trong những cuộc thi chỉ dựa trên sắc đẹp bên ngoài như vậy.
Hoa Hậu Bích Liên đã xuống tóc chính thức thệ phát quy y vào lúc 9 giờ sáng ngày mồng 8 Tết, ngày thái tử Tất Đạt Đa xuất gia, rời kinh thành đi tu. Tịnh thất mà cô sẽ tu là Tịnh xá Ngọc Vân, thôn Hòa Thuận, thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
hoa hau bich lien xuat gia
Hoa Hậu Bích Liên xuất gia đi tu (Pháp danh Liên Ngọc)
Ai trong chúng ta cũng hiểu rằng vẻ đẹp tâm hồn mới chính là thứ tồn tại mãi theo thời gian và cái đẹp thuộc về phẩm chất bên trong mới tạo nên giá trị đích thực của mỗi người phụ nữ.
Cuộc sống của Hoa hậu Bích Liên cũng hoàn toàn không ngoại lệ. Cô không chỉ vươn tới cái đẹp của chính tâm hồn mình mà còn tận tình chăm lo cho sắc đẹp của chị em phụ nữ và tạiTrung Tâm Thẩm Mỹ Bích Liên số 24 Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, TP.Hồ Chí Minh đã trở thành địa chỉ quen thuộc của biết bao khách hàng trong và ngoài nước.

Ngày Tết Đọc Một Số Câu Đối Tiêu Biểu Nơi Các Chùa, Tháp

Thiền học và văn học Việt Nam đã gặp gỡ rất sớm và đã tạo được những thành tựu đáng kể, cả trong văn học chữ Hán, văn học chữ nôm và câu đối.
Bài viết này, xin bước đầu bàn về giá trị văn học và Thiền học của một số câu đối có giá trị nơi các chùa, tháp.
1. Lê Quý Đôn (1726-1784) có lẽ là vị học giả đầu tiên của Việt Nam đã chú ý đến giá trị văn học của câu đối, kể cả các câu đối nơi cửa Thiền. Sách "Kiến văn tiểu lục" của ông cho thấy, trong chuyến đi sứ Trung Hoa năm 1760-1762, ông đã chép được khá nhiều câu đối có giá trị ở nhiều nơi, ở các ngôi chùa Thê Hà, Tương Sơn, Báo Ân.

Chẳng hạn đây là câu đối nơi nhà "Tinh Tuệ" sau chùa Thê Hà :
"Pháp vũ sái không đình, Hoảng hốt chung thinh giai khuyết kệ
Tông phong nhiễu tĩnh thất, phân minh đăng ảnh tự chiêu hoa."
(Pháp vũ dưới sân quang, thánh thót tiếng chim đều niệm kệ.
Tông phong quanh nhà tĩnh, rõ ràng bóng sáp tự sinh hoa).
(Kiến văn tiểu lục, Phạm Trọng Điểm dịch, nhà xb KHXH, H, 1877, t245-246)
Hình ảnh, âm thanh trong câu đối trên vốn không xa lạ nhưng chúng được nối kết một cách hài hòa trên cái mặt Thiền học để tạo nên sức khơi gợi đáng kể.
2. Một điều khá thú vị, là nếu trong thời gian 1760-1762, Quế Đường tiên sinh đã dùng nhiều thì giờ đi sứ của mình để ghi lại nhiều câu đối của xứ người, thì vào năm 1695, tức là trước đấy gần 70 năm, một vị Thiền sư Trung Hoa nổi danh là Thạch Liêm (1633-1704) đã sang thăm Đại Việt theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), không chỉ sáng tác thơ văn viết về phong cảnh cùng chùa chiền ở kinh đô Thuận Hóa và quanh miền, mà còn sáng tác nhiều câu đối nữa, tất cả đều được ghi lại trong sách Hải ngoại ký sự, một tập bút ký có nhiều giá trị về văn học và sử liệu. Xin giới thiệu câu đối được dán trước Đại Giới Đàn chùa Thiền Lâm (1695) tiêu biểu cho quan điểm dung hợp Phật - Nho của Thiền sư, đã có ảnh hưởng rất đáng kể đến đường lối trị nước của chùa Nguyễn Phúc Chu :
"Thích thị trì luật, nho giả lý trung, tổng yếu tu thân thành ý, tự nhiên kính trực hồ nội, nghĩa phương hồ ngoại.
Quân tử sắc cơ, thiền nhân tập định, đồng qui kiến tánh minh tâm, đoan do giới thận bất đổ, khủng cụ bất văn."
(Cửa Phật giới luật, nhà Nho trung dung, chỉ cốt thành ý chính tâm, tự nhiên ngoài có nghĩa phương trong có chính trực ;
Quân tử cơ vi, Thiền sư nhập định, đều để minh tâm kiến tánh, bởi vì răn chỗ chẳng thấy, sợ chỗ chẳng nghe).
(Hải ngoại ký sự, bd của Viện ĐH Huế, 1963, tr 73-74)
3. Chịu ảnh hưởng nhiều ở bổn sư mình là Thiền sư Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu đã có sự quan tâm hỗ trợ nhiều về tinh thần đối với các ngôi Tổ Đình bằng cách sắc phong, ban cho liễn đối, hoành... Đây là một trong hai câu đối chúa đã ban cho chùa Quốc Ân (Thuận Hóa), một tổ đình do Thiền sư Nguyên Thiều sáng lập :
"Bát bảo xán kim lương, hiển nhật lâm quang, tiện hữu nhân hữu cảnh;
Ngũ vân sinh ngọc đống, xuân quang triển tọa, hỷ bất tức bất ly."

(Bát bảo rực rường vàng, vầng nhật chiếu thiền môn, mến được có người có cảnh ;
Năm mây ngời cột ngọc, ánh xuân soi bảo tọa, vui thay không mất không xa).
(Nguyễn Quảng Tuân dịch, Những ngôi chùa sanh tiếng, Viện NC Phật học VN, Nhà xb Trẻ xb, 1990, tr 118).
Còn đây là câu đối ở Chánh điện chùa Thập Tháp (Bình Định), cũng của chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng :
"Phật tính viên dung, trạm nhược hư không, mạc năng trắc kỳ biên tế ;
Pháp thân vô tướng, cảo như hao nhật, thục cảm nghĩ kỳ cao minh." 
(Phật tính tròn đầy, trong trẻo tựa hư không, khó lường được giới mốc ;
Pháp thân vô tướng, sáng như mặt trời hiện, đâu dám chuyện nghĩ bàn)
(Thái Hòa dịch)
Chỉ với hai câu đối này, chúng ta cũng đủ thấy kiến thức Phật học của tác giả rất vững. Ở câu đối sau, vấn đề được đề cập một cách trực tiếp thông qua sự so sánh, cũng ví như thể Phú và thể Tỷ trong kết cấu một hiện cảnh, vừa ca ngợi cảnh đẹp của cửa Thiền, cũng là gián tiếp ca ngợi cùng bày tỏ ước vọng về sự hưng thịnh của đạo pháp. Hầu như cái khó và cái thành công ở câu đối là sự phát hiện và kết hợp trên một mặt bằng thiền học và văn học để tạo được sức khơi gợi lớn. Phải nói rằng với câu đối vừa bàn, sự kết hợp đã có nhưng sức khơi gợi còn yếu.
4. Nhắc đến câu đối nơi chánh điện chùa Thập Tháp thì cũng nên nhắc tới câu đối nơi cổng chùa (mặt trước), tác giả là Hòa Thượng Bích Liên (1876-1950), một bậc danh tăng của Phật giáo Việt Nam tiền bán thế kỷ 20, từng là chủ bút tạp chí Từ Bi Âm (1932) cơ quan hoằng Pháp của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học.
Câu đối như sau :
"Nguyệt hạ bất xao kim tỏa đoạn;
Sơn tiền chỉ nhậm bạch vân phong."
(Mây trắng lững lờ vương núi biếc
Khóa vàng buông mở dưới trăng trong)
          (HT Kế Châu dịch)
Câu đối mới đọc qua tưởng chừng chỉ là một sự ghi nhận về cảnh sắc, nhưng thật ra đã hàm chứa một sức khơi gợi rất lớn về Thiền học : đó là diệu lý hành nhi vô hành. Nếu ở câu thơ của Giả Đạo (758-843) "Tăng xao nguyệt hạ môn" còn có người, có hành động, thì ở đây người đã vắng, hành động không còn, nhưng chiếc khóa vàng vẫn buông mở. Và như thế là sức khơi gợi của nóa đã có thể đi về hai ngả : ngả một : cửa chùa luôn mở rộng đối với bất cứ ai trong bất cứ thời điểm nào ; và ngả hai : để cho chiếc khóa vàng tự buông mở như vậy thì người tu hành ắt phải trải qua bao công sức theo Tam Học và Bát Chánh Đạo. Đối với vế thứ nhì thì chúng ta cũng hiểu rằng, cái đám mây đang phủ dày trên chớp núi kia, tưởng là im lìm, nhưng có thể đã là sự kết hợp của nhiều cụm mây nhỏ từng lang thang khắp chốn đó đây.
Đây là một trong số ít các câu đối viết về cửa Thiền Việt Nam thành công nhất mà chúng ta có được.
5. Tiếp bước người đi trước, chúa Nguyễn Phúc Trú (trị vì từ 1726-1738) cũng mộ Phật và cũng ban tặng nhiều liễn đối, hoành... cho các ngôi danh lam trong vùng do các bậc cao tăng trụ trì.
Câu đối chúa ban cho chùa Linh Phong (Bình Định) vào năm 1733 như sau:
"Hải ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư phật thổ,
Linh Phong ngưng thoại khí, tường vân biến địa ấm nhân gian."

(Bờ biền gặp duyên may, mưa pháp cùng trời thấm nhuần đất Phật,
Núi linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở cõi người).
(Vũ Ngọc Liễn dịch, Thư mục tư liệu về Đào Tấn, Sở VHTT Nghĩa Bình xb, tr 81).
Cũng giống như câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho chùa Phúc Ân, ở đây mặt bằng thiền học và văn học đã có, sự kết hợp đã nhuần nhưng sức khơi gợi chưa cao, vì một số hình ảnh như pháp vũ, tường vân, vốn đã quá quen thuộc trong văn liệu Thiền học.
6. Sẽ là một thiếu sót nếu nói đến ngôi danh lam Linh Phong mà không nhắc tới Đào Tấn (1845-1907), một gương mặt thơ và là nhà viết Tuồng xuất sắc nhất trong văn học cổ điển Việt Nam, người có nhiều gắn bó với ngôi danh lam ấy. Có một thơi gian, do hoàn cảnh, Đào Tấn đã ẩn tu nơi chùa này và đã viết được một số câu đối có giá trị, xin giới thiệu hai câu :
"Thạch thất thiên niên hoàng hổ ngọa,
Hoa trì thập nguyệt bạch liên khai."

(Nhà đá cọp vàng nghìn thuở nghỉ,
- Ao hoa sen trắng tháng mười đơm)
(Vũ Ngọc Liễn dịch, sđd, tr 107)
và :
"Thập niên hồ hải quy lai mộng
Nhất kỉnh yên hoa tự tại thiên."

(Khói hoa một mớ trới dành sẵn
Ao biển mười năm mộng trở về)
(Vũ Ngọc Liễn dịch, sđd, tr 83)
Ở câu đối thứ nhất, Đào Tấn đã ghi lại một vài nét về hiện tượng lạ nơi, ngôi danh lam ấy : hoặc tương truyền (vế 1) hoặc chính mắt ông trông thấy (vế 2). Còn với câu đối thứ nhì thì đây chính là một khám phá phải đánh đổi cả đời người mới có được, cùng nói lên cái tâm đắc của ông Đào với cửa Thiền.
7. Tương tự như lối cấu trúc câu đối của chúa Nguyễn Phúc Trú ban cho chùa Linh Phong, chúng ta có thể kể đến câu đối khuyết danh (?) ỏ chùa Thiền Tôn (Huế), ngôi tổ đình do thiền sư Liễu Quán (1670-1742) khai sơn :
"Bảo đạc trường minh, bất đoạn môn tiền lưu lục thủy ;
Pháp thân độc lộ, y nhiên tọa lý khán thanh sơn."

(Tiếng mõ vang dài, trước cửa không ngừng dòng suối biếc ;
Pháp thân một lối, trong phòng cứ vậy ngắm non xanh)
(Nguyễn Quảng Tuân dịch, sđd, tr 126)
Rõ ràng ở câu đối này, mặt bằng thiền và văn học đã tạo được một kết hợp hài hòa đầy hình ảnh, tuy cũng đi từ một số hiện cảnh nhưng mang đậm tính chất phát hiện và khám phá (tiếng mõ chùa với dòng suối chảy, cảnh an nhiên tự tại của nhà sư đạt đạo ngắm nhìn dáng sừng sững của non xanh) và như vậy sức khơi gợi của nó quả là bất tận.
8. Cùng một dạng như câu đối trên, nhưng tính chất thiền và văn học lại được nâng thêm lên, chúng ta có thể kể đến câu đối khuyết danh (?) nơi Tổ đình Hội Khánh (Sông Bé) :
"Nhược thực nhược hư, trúc ảnh tảo giai trần bất động ;
Thị không thị sắc, nguyệt xuyên hải để thủy vô ngần."
(Như thực như hư, bóng trúc quét thềm, bụi trần vẫn tạnh ;
Là không là sắc, ánh trăng xoáy biển, sóng biển không nhồi).
(Giản Chi dịch, Dẫn theo Nguyễn Quảng Tuân, sđd, tr 228)
Cũng vẫn là một số hình ảnh quen thuộc của ngoại cảnh, nhưng sự khám phá và kết hợp ở câu đối trên phải nói là tuyệt vời, diễn đạt được nội tâm đạt đạo, tự tại với cái nhìn bất nhị về cảnh - trần, một câu đối như thế mà không biết được tác giả kể cũng đáng tiếc thật.
9. Câu đối nơi chánh điện chùa Nhan Sơn (Bình Định) cũng hàm chứa một khám phá rất đáng kể về hiện cảnh :
"Ngoan thạch điểm đầu, thạch khả vi nhân, nhân tác Phật ;
Nhạn sơn hồi thủ, sơn khai chánh pháp, pháp truyền nhân"
(Đá rắn gật đầu, đá hẳn là người, người làm Phật ;
Non nhạn hướng lễ, non mở chánh pháp, pháp truyền người)
(Thái Hòa dịch)
Hiện cảnh ở đây là hai pho tượng người đá được thờ trong chùa, gắn liền với một câu truyện dân gian được truyền tụng từ lâu khi vùng đất này còn là vùng gần kinh đô Đồ Bàn của vương quốc Chiêm Thành. Dùng hình ảnh "ngoan thạch điểm đầu", tác giả câu đối trên đã tạo được sự kết hợp đáng chú ý, vì đây là một Phật điển đã được thi ca nhắc tới. Chẳng hạn :
"Mưa hoa rảy khắp bên mình
Nhấp nhô đá cũng xếp quanh gật đầu..."
(Truyện Quan Âm Thị Kính, câu 311-312)
Những người thích điển cố cũng có thể cho rằng hình ảnh Nhạn Sơn hồi thủ trong câu đối trên nhắc chúng ta nhới tới hai câu thơ của Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) đời Trần viết về một số thắng cảnh của vùng Hồ Nam, Trung Quốc trong chuyến đi sứ của mình :
"Vân tàng Nhạc Lộc sơ chung viễn
Thiên cận Hành Dương độc nhạn lai..."
(Nhạc Lộc từng mây chuông cửa Phật
Hành Dương chiếc bóng nhạn trên không...)
(Đinh Văn Chấp dịch, dẫn theo Hợp Tuyến... nhà xb Văn Học, h, 1976, tr 224-225)
Nhạc Lộc và Hành Dương đều là những ngọn núi và là thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Hồ Nam. Nhạc Lộc có chùa cổ, bia đá cổ, Hành Dương có ngọn núi cao sừng sững gọi là Hồi Nhạn Phong vì tục truyền chim nhạn bay đến đó đều phải quay đầu lại không bay được. Người viết câu đối có thể chỉ dựa vào hiện cảnh là ngọn núi đất nằm về phía Tây Bắc gần ngôi chùa mang tên là Nhạn Sơn để diễn đạt, nhưng người đọc vẫn có thể nghĩ đến những liên hệ xa xôi như thế.
10. Để cho đủ con số 10 tác giả và cũng để làm kết luận cho bài viết, chúng tôi xin giới thiệu một câu đối viết về cửa Thiền có giá trị bằng chữ Nôm, tác giả là Phạm Thái (1777-1814), một gương mặt thơ xuất sắc của văn học Việt Nam cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, có một dạo đã khoác áo tu hành với đạo hiệu là Phổ Chiêu thiền sư. Câu đối ấy như sau :
"Khách hồng trần lơ láo kiếp phù hư, lối kim cổ ra vào sinh tử mãi ;
Thợ huyền tạo khéo khôn tay ảo diệu, then càn khôn đóng mở tịch triêu mau."
(Dẫn theo Nguyễn Văn Xung, Phạm Thái và Sơ Kính Tân Trang, nhà xb Lửa Thiêng, s, 1972, tr 128).
Câu đối này được viết ở cổng chùa Kim Sơn, vế trên là của Phạm Kim hiện đang tu tại chùa, còn vế dưới là của Thụy Châu, lúc này đang cải dạng là một đạo sĩ đến thăm chùa, cả hai đều là nhân vật chính trong tác phẩm "Sơ Kính Tân Trang" của Phạm Thái. 
(Trích Tuần Báo Giác Ngộ)

Khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh

Chủ nhật, 19:00, 31/01/2016
VOV.VN -Hôm nay (31/1), Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Trà Vinh trang trọng tổ chức Lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân; đồng chí  Phạm Văn Trà, Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến dự và cắt băng khánh thành.

khanh thanh thien vien truc lam tra vinh hinh 0
Ông Nguyễn Thiện Nhân cắt băng khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh
Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh tọa lạc trên diện tích 6,97 ha, tại ấp Khoán Tiều, xã Trường Long Hòa, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, trong khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn biển Ba Động.
Công trình được thiết kế theo mô hình Phật giáo thời Lý – Trần, với các hạng mục chính như: Chính điện, nhà Tổ, lầu chuông, lầu trống, cổng tam quan, nhà nghỉ chân, tôn tượng Quan Âm lộ thiên, miếu thờ mẹ Âu Cơ, giảng đường, trai đường, nhà trụ trì,  tháp nước…
Công trình được xây dựng với kết cấu lợp ngói, khung cột gỗ lim. Kinh phí đầu xây dựng hơn 123 tỷ đồng.
Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh được xây dựng nhằm hướng đến 3 mục tiêu là tạo cảnh quan xanh, đẹp, mang sắc thái dân tộc; khôi phục Thiền tông thời Trần; tạo điều kiện cho tăng ni, phật tử hữu duyên tu thiền./.
Hữu Trãi/VOV-ĐBSCL

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

Chủ nghĩa ăn thực vật

Ăn thực vật là điều tuyệt đối cần thiết đối với một đời sống tâm linh.  Tâm linh và chay tịnh là điều không thể tách rời. Tất cả mọi người đều phải trở thành người chỉ ăn thực vật. Khoa học tâm thức cho rằng các rung động của thịt động vật tạo ra bệnh tật trong cơ thể con người. Tình yêu thương chính là nguyên lý căn bản của mọi tôn giáo. Tình yêu thương là yêu thương mọi người xung quanh mình, yêu thương mọi loài động vật có sự sống. Động vật không phải là thức ăn.
Xin đừng ăn quá nhiều, hãy ăn vừa đủ. Chỉ ăn khi đói. Nếu bạn không đói thì đừng ăn.
-Minh Sư Patriji

Arthur E. Powell ... of the Theosophical Society ... đã nói như sau :
 “Một cơ thể được nuôi dưỡng bởi thức ăn không sạch sẽ tạo ra một tâm thức không đúng đắn, một cơ thể được nuôi dưỡng bởi thức ăn sạch (thực vật) sẽ tạo ra một tâm thức đúng đắn”
Bạn không thể nào có một cơ thể vật lý yếu nhưng lại có cơ thể năng lượng và cơ thể vi tế mạnh khỏe. Và bạn chỉ có thể có được cơ thể vật lý khỏe mạnh nếu cơ thể năng lượng và vi tế được thanh khiết. 3 cơ thể này liên hệ chặt chẽ với nhau.
Một chế độ ăn thực vật là cần thiết cho việc phát triển mọi mặt của con người. Những ai cho rằng điều này không cần thiết thì sẽ đối mặt với thật nhiều các vấn đề trong cuộc sống. Ăn thịt động vật tạo ra mọi sự rắc rối và làm cho hành tinh của chúng ta càng xấu đi.
Rashmi Uday Singh wrote in " Times of India " đã nói:
Khoa học y khoa đã chứng minh rằng ăn chay thật sự tốt cho tiêu hóa, cung cấp lượng dinh dưỡng đầy đủ và tinh khiết cho cơ thể. Voi và ngựa là những động vật khỏe nhất nó đánh đổ mọi sự nghi ngờ về một cơ thể yếu đuối khi ăn chay. Những con vật ăn chay như hươu, ngựa vằn, tê giác, công thật thông minh.
Sự thật, việc mất đi các khu rừng nguyên sinh, mất đi diện tích đất trồng trọt và tăng sự ô nhiễm nguồn nước được là do mong muốn tao thêm diện tích chăn nuôi cho các vật nuôi lấy thịt. Nếu các con vật này không được cố ý nuôi để lấy thịt, và thức ăn từ thực vật cho các vật nuôi này được dùng cho con người thì chắc chắn sẽ không có nạn đói trên toàn thế giới.