Loading...
Thứ Ba, 29 tháng 12, 2015
Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015
Thái Độ Người Học Phật
Đạo Phật là giáo pháp xuất thế, cho nên chúng ta không phê bình tốt xấu về chuyện chánh trị, hay đảng phái nầy nọ, bởi vì Pháp là như vậy, xu hướng của thế giới là như thế. Tất cả vạn sự, vạn vật đều là đang nói Pháp. Chúng ta có thể nói rằng: Tất cả đều là “tiền nhân hậu quả” đó thôi. Từ vô lượng kiếp đến nay, nhân nầy đã được gieo xuống rồi, cho nên phải kết cái quả đó, gọi là: "như thị nhân, nhân thị quả” tức gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy là vậy, và không có một chút gì sai nhầm đâu. Nhưng theo kiến giải của phàm phu thì có cái phân biệt là đúng, hoặc là không đúng. Chúng ta đừng nên để ý đến chuyện “đúng hay không đúng,” vì đó là do con người tự sanh ra sự phân biệt thôi. Do đó, chúng ta nghiên cứu Phật Pháp hoàn toàn là vì muốn nghiên cứu đạo lý của Khổng Tử, Lão Tử và Phật Giáo. Chúng ta không bàn luận về hành động của bất cứ một đảng phái chánh trị nào, bởi vì chúng ta đâu có làm chánh trị. Chúng ta cũng không mượn Phật Pháp để phát ra những cái bất bình của mình.
Học Phật Pháp, trước hết là chúng ta phải bình lặng những cái bất bình của mình. Chúng ta không thiên tả, mà cũng không thiên hữu. Đó là tông chỉ của chúng ta khi giảng Pháp đấy.
Còn nữa, tôi không thích được người bợ đỡ, cũng không muốn ai khen tặng tôi. Tôi rất vui khi người ta phỉ báng tôi, nhưng chán ngán nhất là khi có người tán thán khen tôi trước mặt. Tôi không muốn tự thần thánh hóa mình, tôi vốn như là hư không, không hình, không tướng, không tượng, không đông tây nam bắc, không nhân, không ngã, không chúng sanh, không thọ giả. Thế thời sao lại có cái “ngã”?
Nếu có cái “ngã” tôi sẽ không đến Hoa Kỳ. Tôi đến đây không phải là để đào vàng. Ở San Francisco tuy được gọi là Cựu Kim Sơn, (núi vàng cũ) nhưng ngay cả bột vàng tôi cũng chẳng muốn. Tôi lại không biết nói tiếng Anh, một chữ a, b, c cũng không hiểu. Thế thì tôi đến đây để làm gì? Bởi tôi muốn khai khẩn vùng đất mới ở đây, ngõ hầu đem Phật Giáo truyền bá đến toàn khắp thế giới. Đó là nguyện lực của tôi.
Dù bất cứ ở đâu, tôi không muốn tự đề cao địa vị mình, tôi cũng không muốn được nổi bật. Tôi không cảm thấy rằng mình cao hơn người, giỏi hơn người, có trí tuệ hơn người. Nếu tôi nghĩ như vậy, tức là tự mãn, coi như tôi đã tiêu rồi. Bởi người tự mãn, nhất định sẽ không thành tựu được cái gì. Con người nên giống như “có cũng như không, thật cũng như hư.” Người có đạo đức nhưng giống như người không có đạo đức, có trí tuệ nhưng tợ như người không có trí tuệ, nhất là không nên tự mãn.
Một khi con người tự mãn thời sẽ tự đại, mà tự đại thì trở thành như chữ “xú” tức là hôi thúi (chữ “xú” là tiếng Hán gồm có chữ “tự” và chữ “đại” nghĩa là hôi thúi). Cho nên chúng ta ai nấy đều nên tận lực học Lục Đại Tông Chỉ: Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không vọng ngữ. Chúng ta phải hết sức mình làm theo sáu nguyên tắc nầy. Nếu không thể thực hành Lục Đại Tông Chỉ nầy, dù cho quý vị có tài hoa gì đi nữa, quý vị cũng chẳng có trí huệ chân thật. Thậm chí miệng lưỡi quý vị có lưu loát như nước chảy, biện tài vô ngại, tôi cũng không có hứng thú gì đâu. Tôi là kẻ chỉ biết người thật thà, chứ không biết đến kẻ xảo trá. Về sau, bất luận là người nào cũng đều phải thật thà, đừng nghĩ rằng mình có cái gì nổi bật. Hoặc kể như là quý vị phi thường, nổi bật đi, quý vị cũng đâu cần phải phô trương, lộ bày rằng mình là nhất hạng không ai sánh kịp. Loại người như thế sẽ không thể tồn tại trong Phật Giáo, sớm tối gì cũng bị thất bại thôi. Cho nên tôi thường nói với quý vị, trong Phật Giáo muốn tạo lập công đức, nhất định là phải học tập thái độ của các vị cổ nhân đức lớn xưa nay: không tranh, không cầu, không tham, không ích kỷ, không tự lợi, không vọng ngữ, như thế mới đúng với tư cách của người chân chánh học tập Phật Pháp.
Nếu không, dù quý vị có giảng hay đến mấy đi nữa, cũng không được chút ích lợi nào. Quý vị dối người chỉ có thể dối được một lúc nào đó, chứ không thể dối gạt lâu dài được. Cho nên nói: Đường dài biết sức ngựa, lâu ngày biết lòng người. Tu đạo là tu cái gì? Thì là chú trọng về đức hạnh của chính mình đó.
Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015
Cảm nhận về một triển lãm tại Hội thảo Hoằng pháp
14/12/2015 09:52:00
Vào một ngày đầu của tháng cuối năm, chúng tôi có dịp ghé thăm Đại Tòng Lâm và được tham quan khu triễn lãm “Đạo Phật và mạch sống dân tộc” chào mừng Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc 2015 do Ban Hoằng pháp T.Ư phối hợp với Ban Trị sự GHPGVN Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức.
Từ những tấm ảnh, hiện vật phong phú, đa dạng triễn lãm đã giới thiệu bức tranh thu nhỏ lịch sử hình thành và phát triển của Phật gíao Bà Rịa – Vũng Tàu. Đặc biệt với những quyển kinh được in trên lá Bối ra đời cách nay ba thế kỷ như tái hiện những dấu ấn văn hóa của những ngày đầu Phật giáo phát triển ở miền Nam.
Cắt băng khai mạc triển lãm - ảnh: Đăng Huy
Nhìn một cách tổng quan, từ cổng chào khu vực triển lãm được sắp xếp và bố trí các hình ảnh, hiện vật hết sức phù hợp, đẹp mắt. Phần đầu tiên là các pho tương Phật, Bồ tát ở các nước, giúp cho người xem cảm nhận rõ hơn về Phật giáo các nước trong khu vực.
Kế đến là một không gian nhẹ nhàng về hình ảnh chư Tăng Ni, chú tiểu của Phật giáo Nam Tông và Bắc Tông. Phía bên phải từ lối đi vào khu triển lãm, các hình ảnh về Phật giáo Bà Ria- Vũng Tàu xưa và nay được sắp xếp đẹp mắt, giúp người xem thấy được dòng chảy của Phật giáo địa phương theo thời gian. Có những ngôi chùa thật đẹp, thật trang nghiêm, song cũng có những ngôi chùa cơ sở vật chất còn thiếu thốn, chư Tôn đức Tăng Ni vẫn miệt mài hoằng truyền Phật pháp từ đô thị, thành phố cho đến vùng sâu, vùng xa.
Chư tôn giáo phẩm tham quan triễn lãm - ảnh: Đăng Huy
Phần cuối cùng của khu triển lãm nằm ở hành lang phía trái là hình ảnh với chủ đề ”Khỏanh khắc của chùa Hoằng pháp”. Ngoài những hình ảnh sinh hoạt đời thường của chư Tăng cũng như những chương trình Phật giắo đi vào cuộc sống định hướng các tầng lớp thành thiếu niên và người lớn. Ở khu vực này còn có gian hàng văn hóa Phật giáo với các văn hóa phẩm, kinh, sách, băng, đĩa…rất phong phú và đa dạng.
Chị Phương Anh từ thành phố Hồ Chí minh được phước duyên làm tình nguyện viên ở khu vực triển lãm cho biết Ban tổ chức đã công phu khi thực hiện một bộ sưu tập quy mô với nhiều nội dung khác nhau. Đồng quan điểm vói Phương Anh, nhiều Phật tử thưởng lãm mà chúng tôi có dịp trò chuyện cũng thể hiện sự hoan hỷ qua ánh mắt, những gương mặt tò mò và hài mong khi cùng lúc có thể tiếp cận nhiều thông tin văn hóa Phật giáo nhờ triển lãm.
Hòa thượng Chủ tịch tham quan triển lẵm - ảnh: Đăng Huy
Triễn lãm tôn tượng Đức Phật - ảnh: Đăng Huy
Triển lãm Pháp khí - ảnh: Đăng Huy
TT.Thích Giác Trí, Phó Ban Tổ chức Hội thảo phụ trách triển lãm cho biết có được thành công tốt đẹp của triển lãm là nhờ sức mạnh tổng hợp tư liệu về nhiều nguồn khác nhau và bộ óc sáng tạo dám nghĩ, dám làm. Sư cô Thích Nữ Như Chiếu, Phó Ban Văn hóa Phật giáo Bà Rịa Vũng Tàu bổ sung thêm triển lãm Văn hóa Phật giáo đã thành công tốt đẹp từ nội dung đến hình thức có một phần đóng góp không nhỏ của chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử địa phương.
Triển lãm Văn hóa Phật giáo là một nét đẹp và cũng là điểm nhấn đầy ấn tượng đã thu hút chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử tham dự Hội thảo đến thưởng lãm.
Nguồn Phattuvietnam.net
Phóng sanh thế nào có ý nghĩa và đúng chánh pháp - Phạm Ngọc Hải
Nguồn Phạm Ngọc Hải - Cộng đồng Phật giáo Dấn Thân
Trong vô số pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy:
Chỉ có phương pháp phóng sanh là dễ thực hành nhất để trưởng dưỡng lòng từ bi của chúng ta. Trong Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội sát sanh là nặng nhất. Trong tất cả các công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.” Thế nào gọi là phóng sanh? Phóng sanh tức là nhìn thấy các loại chúng sanh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng, mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống”

Đạo Phật được xây dựng trên nền tảng từ bi và trí tuệ. Từ bi và trí tuệ là là hai chủng tử sanh ra Phật. Trong bộ Đại trí độ luận quyển 27 của ngài Long Thọ có nói: “Từ bi là căn bản của đạo Phật.” Do vậy, chất liệu “từ bi” không thể thiếu trong giáo lý đạo Phật.
Từ bi là do hai chữ “Từ” và “Bi” ghép chung lại. Đức Phật dạy: "Từ năng dữ nhứt thiết chúng sanh chi lạc; Bi năng bạt nhứt thiết chúng sanh chi khổ". “Từ” là lòng yêu thương, thường đem vui cho tất cả chúng sanh. “Bi” là lòng thương xót, thương dứt trừ đau khổ cho hết thảy chúng sanh. Từ bi là tình thương hoàn toàn vị tha không vị kỷ. Từ bi là một lòng thương rộng lớn vô biên, nó khiến người ta vận dụng tất cả mọi khả năng, phương tiện để làm cho mọi người, mọi vật thoát khổ được vui.
Từ bi là do hai chữ “Từ” và “Bi” ghép chung lại. Đức Phật dạy: "Từ năng dữ nhứt thiết chúng sanh chi lạc; Bi năng bạt nhứt thiết chúng sanh chi khổ". “Từ” là lòng yêu thương, thường đem vui cho tất cả chúng sanh. “Bi” là lòng thương xót, thương dứt trừ đau khổ cho hết thảy chúng sanh. Từ bi là tình thương hoàn toàn vị tha không vị kỷ. Từ bi là một lòng thương rộng lớn vô biên, nó khiến người ta vận dụng tất cả mọi khả năng, phương tiện để làm cho mọi người, mọi vật thoát khổ được vui.
Trong kinh Từ bi, Đức Phật dạy:
“Mong tất cả những ai
Hữu tình có mạng sống
Kẻ yếu hay kẻ mạnh
Không bỏ sót một ai
Kẻ dài hay kẻ lớn
Trung, thấp loài lớn, nhỏ
Loài được thấy, không thấy
Loài sống xa, không xa
Các loài hiện đang sống
Các loài sẽ được sanh
Sống hạnh phúc an lạc…”
Đây là lời nguyện ước đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn và ác tâm mà mong cho ai đau khổ và khốn đốn.
Trong vô số pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy, chỉ có phương pháp phóng sanh là dễ thực hành nhất để trưởng dưỡng lòng từ bi của chúng ta. Trong Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội sát sanh là nặng nhất. Trong tất cả các công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.” Thế nào gọi là phóng sanh? Phóng sanh tức là nhìn thấy các loại chúng sanh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng, mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống”.
Phóng sanh có mười công đức như sau:
1. Không có nạn đao binh, tránh được tai họa chiến tranh tàn sát;
2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh;
3. Tránh được thiên tai, dịch họa không gặp các tai nạn;
4. Con cháu đông đúc, đời đời hưng thạnh nối dõi không ngừng;
5. Chỗ mong cầu được toại nguyện;
6. Công việc làm ăn phát triển hưng thạnh gặp nhiều thuận lợi;
7. Hợp lòng trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn, chư Phật hoan hỷ;
8. Giải trừ oán hận, các đều ác tiêu diệt, không có lo buồn sầu não;
9. Vui hưởng an lành, quanh năm đều được an ổn;
10. Tái sanh về cõi trời hưởng phước vô cùng, nếu có tu Tịnh Độ thì được vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.
Kinh Dược Sư Lưu Ly bổn nguyện công đức dạy rằng:“Cứu thả các sinh mạng được tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn.” Người phóng sanh tu phước, cứu giúp muôn loài thoát khỏi khổ ách thì bản thân không gặp các tai nạn.
Pháp sư Viên Nhân cũng dạy rằng: “Tật bịnh, ung thư, tai nạn… sở dĩ có thể bất hạnh sanh ra là duyên nơi nghiệp giết hại trước kia chúng ta đã tạo nên mà chiêu cảm lấy quả báo này. Phương thức giải quyết chính là phóng sanh. Nhờ vào việc bỏ tiền, bỏ sức để cứu mạng phóng sanh nên có thể đền trả vô số món nợ sát sanh trước kia mà chúng ta đã thiếu. Điều quý báu nhất của mỗi chúng sanh đều là mạng sống. Giết hại chúng thì chúng oán hận nhất, oan cừu kết sâu nhất, cho nên nói nghiệp giết hại là nặng nhất. Ngược lại, cứu sống được chúng thì chúng cảm kích nhất, tạo được nhiều phước thiện nhất, cho nên nói công đức phóng sanh là đệ nhất. Những ai phê phán, hủy báng việc phóng sanh, hoặc cản trở nghi ngờ việc phóng sanh cần phải lưu ý. Vì cản trở người phóng sanh thì cũng giống như sát sanh, khiến cho hàng ngàn hàng vạn sanh mạng không được giải cứu, phải hàm oan mà chết. Tội lỗi đó thật là vô lượng vô biên. Nhất định phải gấp rút sám hối, sửa lỗi, nếu không thì khổ hình nơi địa ngục nhất định không tránh khỏi.”
Tất cả mọi loài chúng sanh đều ham sống sợ chết, không có gì quý hơn sinh mạng của mỗi chúng sanh. Chúng ta phóng sanh tức là trực tiếp giải cứu sinh mạng cho chúng sanh, vì giải cứu sinh mạng cho chúng sanh tức là giúp chúng sanh giữ lại được cái giá trị cao cả nhất, đáng trân quý nhất. Đức Phật dạy: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Chỉ vì nhân quả tội báo trong quá khứ mà nay thọ thân làm súc sanh, khi ác nghiệp tiêu trừ thì chúng có thể chứng thành quả Phật. Do vậy, khi thực hiện việc phóng sanh, chúng ta giúp chúng sanh thoát khỏi sự sợ hãi, sự oán hận khi cận tử nghiệp đến để sống tự do, an vui, có nghĩa là đã cứu được “Huệ mạng” của chúng sanh hay nói cách khác là cứu được một vị Phật trong tương lai.
Kinh Chánh pháp niệm có dạy: “Tạo một ngôi chùa chẳng bằng cứu một sinh mạng.” Công đức phóng sinh rất là thù thắng, bất khả tư nghị. Cho nên hiện nay, thực hành phóng sanh được phổ biến rất nhiều trong đời sống tu tập của người Phật tử. Nhưng thực hành phóng sanh như thế nào mới có lợi ích, mới đúng chánh pháp?
Ta thường thấy một số Phật tử mua chim, cá để phóng sanh. Nhưng họ không thả liền mà đem vô chùa chờ quý thầy làm lễ chú nguyện rồi mới thả. Có đôi khi quý thầy bận việc không làm lễ liền thì nhốt trong lồng qua đêm hay đến ngày hôm sau, đợi đến khi làm lễ thì mới thả. Hay trong những lễ lớn hay những dịp cầu an đầu năm hay cầu siêu, chúng ta thấy một số Phật tử gọi điện thoại đến chỗ bán chim, bán cá, bán lươn phóng sanh để đặt số lượng mua để phóng sanh. Hay có trường hợp thay vì mua 5 kg cá lớn thì người ta khăng khăng lấy số tiền đó để mua cho được 20kg cá nhỏ để phóng sanh và nghĩ rằng với số lượng phóng sanh càng nhiều thì công đức càng lớn. Thử hỏi phóng sanh như vậy có đúng không? Suy nghĩ như vậy có đúng chánh pháp không?...
Chúng ta cần phải hiểu rằng, phóng sanh xuất phát từ lòng từ bi, lòng từ tâm, thương xót khi gặp một con vật bị nạn, mình ra tay cứu thoát, hoặc nhìn thấy một hoặc nhiều con vật sắp bị giết, mình bỏ tiền ra mua để cứu sống chúng. Nhưng hành động rất tốt và rất đẹp của việc phóng sanh mà thực hiện không đúng cách thì không đem lại hiệu quả, dẫn đến mê tín, thậm chí còn bị tội báo. Như vậy, để việc phóng sanh có ý nghĩa và đúng pháp, chúng ta cần lưu ý những điều sau:
- Phóng sanh phải phát xuất từ lòng từ bi, không vì ý nghĩa tư lợi (như cầu sống thọ, cầu may mắn, giải trừ tật bệnh, cầu siêu…). Vì nếu không như vậy, việc phóng sanh tuy có tốt, nhưng công đức và phước báu chỉ là hữu lậu nhân thiên.
- Phóng sanh bằng cái tâm, chẳng cần được ai biết đến, chứ đừng theo phong trào, chạy theo chữ danh, muốn cho mọi người thấy để khen ngợi, để được tiếng tăm. Tâm từ bi mà không khởi sanh thì còn nói gì đến chuyện trưởng dưỡng.
- Phóng sanh là tự do, không phân biệt số lượng ít nhiều, lớn nhỏ, mắc rẻ, không chọn mua con này hay con kia để phóng sanh, vì chúng sanh đều bình đẳng cho nên đối tượng phóng sanh bao gồm tất cả chúng sanh, không chọn ngày giờ tốt xấu, không nên chờ dịp này hay dịp khác,…. Nên khi ta phát tâm thì liền thực hiện, tùy vào khả năng từ một, hai con đến muôn ngàn con phải lập tức cứu thoát chúng. Quan trọng là sự thành tâm, lòng từ bi của người phóng sanh chứ không phải là số lượng sinh vật được phóng sanh.
-Sau khi mua con vật để phóng sanh thì thả ngay càng nhanh càng tốt để chúng trở về môi trường sống tự nhiên, tự do thoải mái. Không nên chờ quý thầy chú nguyện rồi mới phóng sanh vì chúng ta phóng sanh từ lòng từ bi thì không thể nào nhẫn tâm nhìn thấy cảnh tượng “cá chậu, chim lồng”, tránh cho chúng phải chịu kéo dài nỗi khổ sợ hãi, ngột ngạt, tù túng vì bị giam cầm; có khi chúng phải mất mạng trước khi được ta phóng thích.
- Khi phóng sanh tránh trường hợp đặt hàng trước vì khi chúng ta đặt hàng thì người bán sẽ truy bắt các con vật và nhốt chúng vào lồng hay chậu để chờ tới ngày giao. Điều này khiến các con vật đang sống trong môi trường tự nhiên tự do, có thể bị thương, bị đói, bị chết do bị giăng bắt. Cần tránh trường hợp mình tạo nghiệp tốt mà đẩy người khác phạm vào nghiệp ác. Ngoài ra, chúng ta không nên mua chim phóng sanh hoặc các loài vật được mang đến bán trong chùa. Vì việc làm này vô tình tiếp tay cho những người ác tâm, lợi dụng lòng từ của Phật tử, chuyên đánh bắt một vài loại chim (sẻ, én) để phục vụ cho phóng sanh.
- Khi phóng sanh cần quan tâm đến môi trường sống của nó, thả chúng về đúng môi trường sống tự nhiên của nó, không nên mua cá nước ngọt mà thả ở nước lợ, không thả vào môi trường khó sinh tồn hay làm hại các sinh vật khác…
- Khi phóng sanh cần thực hiện âm thầm, chọn nơi vắng vẻ càng tốt, vì pháp sự này không nên kích thích lòng tham của những người săn bắt, tạo thêm nghiệp chướng cho họ mà chính chúng ta cũng bị giảm phần công đức.
- Phóng sanh là cơ hội để con vật có điều kiện quy y Tam Bảo và sám hối nghiệp chướng, khuyến phát tâm Bồ đề cho các loài hữu tình đó, nhờ công đức Quy y Tam bảo mà khi hết duyên mang thân súc sanh thì những loài hữu tình này sẽ được tái sanh lên cảnh giới cao hơn, được gặp Phật, nghe Pháp, giải thoát giác ngộ, tự độ cho bản thân và chúng sanh. Do đó, trong nghi thức phóng sanh có lễ quy y, sám hối cho chúng sanh, phát nguyện kết duyên lành với các chúng sanh đó, nguyện đời đời kiếp kiếp sanh ra được thân cận, làm quyến thuộc Bồ đề, cùng tu thành Phật đạo trước khi phóng sanh
Tóm lại, người học Phật tăng trưởng lòng từ bi là điều rất cần thiết nhưng từ bi phải có trí tuệ. Để thực hiện việc phóng sanh có ý nghĩa và đúng pháp thì người phóng sanh cần có thực tâm và thực lòng, vận dụng tâm đại từ đại bi. Khi phóng sanh, chúng ta đi ra chợ, nơi bán các loài vật sẽ bị giết để làm thực phẩm cho con người (không có mục đích phục vụ cho việc phóng sanh). Khi đi mua không nên lặp lại nhiều lần ở một địa điểm và không có tính chất định kỳ để người bán không có sự chuẩn bị trước. Chúng ta gặp con gì thì mua con đó, không đặt trước, không phân biệt nhiều hay ít, lớn hay nhỏ mà chỉ tùy tâm và thành tâm. Sau đó cần chuẩn bị dụng cụ và chọn vị trí phù hợp để vận chuyển chúng đến nơi sẽ phóng sanh, cần tránh trường hợp thùng chứa quá nhỏ và vị trí quá xa. Trước khi phóng sanh, chúng ta nhiếp tâm chú nguyện đơn giản để khuyến phát tâm Bồ đề và để cho chúng gieo duyên lành với Phật Pháp: “Nam mô A Di Đà Phật (3 lần). Hôm nay, tôi gặp quý vị là có nhân duyên với nhau, nguyện nhiều đời làm quyến thuộc Bồ Đề, xin quý vị sám hối nghiệp chướng và quy y Tam Bảo.” Sau đó đọc tiếp:” Chúng sanh xưa nay tạo ác nghiệp, đều do ba độc tham sân si, từ thân miệng ý mà sanh ra, nay đối trước Phật cầu sám hối. Nam mô Cầu sám hối bồ tát (3 lần). Chúng sanh quy y Phật, chúng sanh quy y Pháp, chúng sanh quy y Tăng. Chúng sanh quy y Phật không đọa địa ngục. Chúng sanh quy y Pháp không đọa ngạ quỷ. Chúng sanh quy y Tăng không đọa súc sanh (3 lần). Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo”.
Bên cạnh đó, có một số người cho rằng: “Người ta có tiền thì mới có điều kiện để mua các loài vật để phóng sanh, còn tôi cơm không đủ ăn thì dù có muốn phóng sanh cũng không thể thực hiện được”. Nghĩ như vậy là chưa hiểu về giáo lý đạo Phật. Trong đạo Phật, có ba cách để thực hiện các hạnh lành như phóng sanh, bố thí, cúng dường, ấn tống kinh sách, …Đó là: tự mình trực tiếp làm, hoặc thấy người khác làm sanh tâm vui mừng (tùy hỷ công đức), hoặc khuyến khích người khác làm thì cũng đều có công đức. Hòa Thượng thượng Trí hạ Tịnh dạy: “Trong Mười Đại Nguyện Vương của Bồ Tát Phổ Hiền, điều nguyện thứ năm là “Tùy hỷ công đức” dễ thực hành lắm, lấy công đức của người làm công đức của mình. Đây là Pháp tu thong thả nhẹ nhàng. Đối với các việc lành của người, chúng ta không vui mừng lại còn ngăn cản chê trách thì tổn phước. Còn tùy hỷ (vui mừng theo) thì Phước đức tăng thêm...”.
Ngoài ra, trong cuộc sống hằng ngày, khi thấy đàn kiến bị ngập nước, thấy con giun nằm chỗ đất khô, thấy con ốc bò trên đường đi, thấy tổ chim non bị rớt, thấy các loài chim, loài thú bị mắc nạn, … chúng ta lập tức tìm cách giải thoát cho chúng, đưa chúng về môi trường sống tự nhiên. Những việc làm đơn giản này cũng là thực hành hạnh phóng sanh.
Hơn thế nữa, để thực hành hạnh phóng sanh một cách rốt ráo thì chúng ta cần phải phát nguyện ăn chay. Phóng sanh và ăn chay có liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau. Ăn chay cũng giúp giảm bớt số lượng chúng sanh bị bắt, bị giết để làm thực phẩm, cũng góp phần trưởng dưỡng lòng từ bi. Nếu chúng ta chỉ phóng sanh mà không ăn chay thì nghiệp sát vẫn không dứt.
Giáo lý Đạo Phật rất cao sâu nhiệm màu nhưng vẫn vô cùng thiết thực. Người Phật tử nếu biết thực hành, ứng dụng giáo pháp một cách đúng đắn vào đời sống hằng ngày thì sẽ có một đời sống an lạc.
ảnh từ Internet - Cộng đồng Phật giáo Dấn thân:
THIỀN SƯ NHẤT HẠNH NHẬN GIẢI HÒA BÌNH THẾ GIỚI PACEM IN TERRIS 2015
Giải thưởng Hòa Bình Thế Giới xuất phát từ phía đạo Thiên Chúa vinh danh hiến tặng cho một tu sĩ thuộc hàng giáo phẩm cao cấp của Phật giáo là một quyết định trung thực và cao quý.


THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH
Hành giả bắc nhịp cầu tâm linh Đông-Tây
Tin thầy Thích Nhất Hạnh được nhận giải Pacem in Terri năm 2015[*] – giải Hoà Bình Thế Giới hằng năm phổ biến nhất của Thiên Chúa Giáo toàn cầu – đã trực tiếp hay gián tiếp gởi một thông điệp hòa bình, an lạc, hiệp thông của hai tôn giáo có đông tín đồ nhất Việt Nam.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh được vinh danh do thành quả “công phu xây dựng được nhịp cầu tâm linh nối liền giữa phương Đông và phương Tây.”
Lịch sử Giải thưởng Hòa Bình Thế Giới của Thiên Chúa giáo trao hàng năm kể từ 1964 do đức Giáo Hoàng John XXIII đề xướng với sự xác định tiêu chuẩn rằng: “Đây là giải thưởng vinh danh các nhân vật tạo được những thành tựu về Hòa Bình, Công Lý không chỉ riêng cho đất nước của họ mà cho toàn thế giới.” ("to honor a person for their achievements in Peace and Justice, not only in their country but in the world).
Đã có sáu trong 42 người đạt giải thưởng Pacem in Terris nhận được giải Nobel Hòa Bình như Martin Luther King, Mẹ Teresa, Desmond Tutu, Lech Walesa… trong những năm qua.
Giải thưởng Pacem in Terris năm nay sẽ được tổ chức vào ngày 31-10-2015, đúng vào thời điểm kỷ niệm 50 năm ngày mục sư Martin Luther King Jr. được vinh danh nhận giải thưởng nầy. Hai nhà lãnh đạo tôn giáo – mục sư Martin Luther King và thiền sư Thích Nhất Hạnh – đã nhiều lần hội kiến với nhau tại Hoa Kỳ để chia sẻ lý tưởng tìm kiếm một nền hòa bình công chính và tinh thần đấu tranh bất bạo động cho Hoà Bình và Công Lý có tầm ảnh hưởng lớn đến không khí chính trị vào những năm cuối thập niên 1960. Đầu năm 1967, trong bài phát biểu nổi tiếng của mình ở nhà thờ Riverside tại thành phố New York, mục sư King đã đề cử Thầy Nhất Hạnh cho giải Nobel Hòa bình và đã gọi Thầy là "một tông đồ của hòa bình và bất bạo động."Thiền sư Thích Nhất Hạnh được thế giới công nhận như là người sáng lập của phái Phật giáo Xã hội Nhập thế và đồng thời là người khởi phát của pháp tu Chánh Niệm (Mindfulness) trong văn hóa phương Tây.
Chân lý đầu tiên trong Tứ Diệu Đế của Phật giáo với cuộc đời là Khổ. Thầy đã chuyển hóa khái niệm “Khổ” sang một bối cảnh phương Tây thời hiện đại. Muốn ứng dụng lý tưởng cứu khổ vào thực tế thì cần phải để cho các hành giả giúp đời bớt khổ thì trước hết, chính họ cần phải có kinh nghiệm trực tiếp về đau khổ trong thời đại của mình qua các công tác dấn thân tiếp cận với môi trường khốn đốn, bất hạnh của con người. Từ đó, hành giả thiện nguyện mới có thể định hình con đường diệt khổ thích ứng với hoàn cảnh và căn cơ của từng đối tượng nhân sinh cần giúp đỡ. Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, các khuynh hướng Phật giáo Ứng Dụng, Phật giáo Nhập Thế, Dòng Tiếp Hiện mà TS Nhất Hạnh đã khai sinh và hoạt động đều là những phương tiện thiện xảo nhằm thực hiện con đường cứu khổ.
Chân lý đầu tiên trong Tứ Diệu Đế của Phật giáo với cuộc đời là Khổ. Thầy đã chuyển hóa khái niệm “Khổ” sang một bối cảnh phương Tây thời hiện đại. Muốn ứng dụng lý tưởng cứu khổ vào thực tế thì cần phải để cho các hành giả giúp đời bớt khổ thì trước hết, chính họ cần phải có kinh nghiệm trực tiếp về đau khổ trong thời đại của mình qua các công tác dấn thân tiếp cận với môi trường khốn đốn, bất hạnh của con người. Từ đó, hành giả thiện nguyện mới có thể định hình con đường diệt khổ thích ứng với hoàn cảnh và căn cơ của từng đối tượng nhân sinh cần giúp đỡ. Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, các khuynh hướng Phật giáo Ứng Dụng, Phật giáo Nhập Thế, Dòng Tiếp Hiện mà TS Nhất Hạnh đã khai sinh và hoạt động đều là những phương tiện thiện xảo nhằm thực hiện con đường cứu khổ.
Thầy đã phối hợp nguồn kiến thức riêng về các trường phái Thiền, Phật giáo Đại Thừa cùng các ngành Tâm lý học, Luận lý học và kể cả Thần học phương Tây để xây dựng một con đường tu học tươi mới, thích hợp với khuynh hướng ứng dụng, dấn thân từ căn bản truyền thống của Phật giáo. Thiền phái Làng Mai thường được mệnh danh là Thiền Làng Mai hay Phật giáo Ứng dụng (Applied Buddhism), Phật giáo Nhập thế (Engaged Buddhism).
Với những tác phẩm văn chương, tôn giáo, triết học đã được phát hành và dịch ra nhiều ngôn ngữ cùng với sự đóng góp liên tục trong hơn nửa thế kỷ qua cho Phật giáo, những phong trào vận động nhân đạo và cho hòa bình của thế giới, hãng thông tấn AP đã đánh giá thiền sư Nhất Hạnh là nhân vật lãnh đạo Phật Giáo có tầm ảnh hưởng lớn thứ hai tại phương Tây, chỉ sau đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.
Sự kiện Hội đồng Quản nhiệm giải thưởng Pacem in Terris Thiên Chúa Giáo quyết định vinh danh trao giải thưởng “bình an dưới thế” Hoà Bình và Tự Do Thế Giới (The Pacem in Terris Peace and Freedom Award) cho một tu sĩ Phật giáo Việt Nam như trường hợp thiền sư Nhất Hạnh là một biểu tượng nhân văn, liên thông tôn giáo rất đáng trân trọng. Nó tạo ra được tác dụng tinh thần, xã hội và giáo dục lâu dài, mang ý nghĩa sâu sắc của tinh thần tương tác và hiệp thông mà các nhà lãnh đạo tôn giáo hàng đầu trên cả hai thế giới Đông Tây thường rao giảng.
Nhân dịp nầy, mạng lưới xã hội toàn cầu lại có dịp nói đến thầy Nhất Hạnh một cách hòa ái, trân quý và nhiệt tình kể từ sau ngày Thầy bị xuất huyết não hôm 11-11 năm ngoái (xin mời theo dõi Nguồn – footnotes cuối bài viết.). Nguồn thông tin và sự suy diễn có thể đứng ở nhiều góc cạnh và và sự suy diễn đặt ở nhiều tầm mức cao thấp khác nhau, nhưng tựu trung có đại ý khái quát là:
Con đường tu học và hoằng đạo của thầy Nhất Hạnh không xuôi dòng và dễ đi như những bậc tu hành đại ẩn hay các hành giả tịnh tu tại các nước được sống trong hòa bình trọn vẹn trên toàn thế giới. Con đường hành hóa đạo Phật của giới tăng sĩ Việt Nam nói chung và của TS Nhất Hạnh nói riêng là con đường “Hoa sen trong biển lửa”. Đó là con đường gian nan mà chư tổ đã dùng làm biểu tượng cho công hạnh tu trì miên mật trước những gian nan và thử thách của cuộc đời và với chính mình trong những hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng. Trước hiện thực xã hội ngày nay bị điên đảo với quá nhiều loại Giu-Đa bán Chúa và Đề Bà Đạt Đa hại Phật, những hoạt động về tôn giáo, văn hóa, xã hội của thầy Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai có một tác dụng tích cực cho thế hệ đàn em, dù ở bất cứ tôn giáo hay hoàn cảnh xuất thân nào đều có cơ hội ươm mầm niềm tin tâm linh trong sáng và trung thực. Chính vì vậy mà báo chí phương Tây trong những ngày nầy nhắc đến thầy Nhất Hạnh như là một người “Bắc nhịp cầu tâm linh và tạo sự hiểu biết ở tầm cao, đi vào chiều sâu giữa hai thế giới Đông và Tây.”
Một nhà văn, nhà nghiên cứu thần học Thiên Chúa giáo, Katie Kiley, đã viết trên Thông Tri Công Giáo (The Catholic Messenger) rằng:
“Kể từ buổi lưu vong của thiền sư Nhất Hạnh từ Việt Nam, cuộc sống của ông đã được dành riêng cho công việc của “Transformation Inner” (chuyển hóa nội tâm) vì lợi ích của cá nhân và của toàn xã hội. Chuyển đổi bên trong, theo quan điểm của Thầy, bắt đầu với sự dốc tâm mở khóa năng lượng của chánh niệm. Các điểm chốt thực hành chánh niệm là từng lúc, từng lúc nhận thức về các phép lạ của hơi thở vào và hơi thở ra. Hơi thở chánh niệm, đi bộ chánh niệm, ăn uống lưu tâm - đó là những cánh cửa để mở nguồn tâm. Thực tập chánh niệm nuôi dưỡng sự tự hiểu biết và tha thứ, gây nên tâm thức sâu lắng và hành động từ bi vì lợi ích của tất cả các đối tượng, bao gồm cả kẻ thù và trái đất. Chánh niệm được biểu hiện chân thật nhất của mình khi thực hành như là một sinh hoạt mang tính cộng đồng, cống hiến cho đại chúng.”
“Kể từ buổi lưu vong của thiền sư Nhất Hạnh từ Việt Nam, cuộc sống của ông đã được dành riêng cho công việc của “Transformation Inner” (chuyển hóa nội tâm) vì lợi ích của cá nhân và của toàn xã hội. Chuyển đổi bên trong, theo quan điểm của Thầy, bắt đầu với sự dốc tâm mở khóa năng lượng của chánh niệm. Các điểm chốt thực hành chánh niệm là từng lúc, từng lúc nhận thức về các phép lạ của hơi thở vào và hơi thở ra. Hơi thở chánh niệm, đi bộ chánh niệm, ăn uống lưu tâm - đó là những cánh cửa để mở nguồn tâm. Thực tập chánh niệm nuôi dưỡng sự tự hiểu biết và tha thứ, gây nên tâm thức sâu lắng và hành động từ bi vì lợi ích của tất cả các đối tượng, bao gồm cả kẻ thù và trái đất. Chánh niệm được biểu hiện chân thật nhất của mình khi thực hành như là một sinh hoạt mang tính cộng đồng, cống hiến cho đại chúng.”
Trong một thế giới dao động đầy thiên ma bách chiết, thiện ý xây dựng xuôi chiều vẫn có lúc bị diễn dịch ngược chiều thành nghịch hạnh khước từ, phủ định. Thiền sư Nhất Hạnh không là trường hợp ngoại lệ. Thầy trở thành một tu sĩ Phật giáo Việt Nam đầu tiên bị lưu đày ra khỏi nước sống lưu vong trước 1975 và một nhà lãnh đạo Phật giáo bị khước từ sau 1975 qua cuộc bạo hành dẹp bỏ Tu viện Lâm Đồng Bát Nhã của tăng thân Làng Mai! Phải chăng trong từng mạng mạch tinh túy của đạo Phật, lưu vong cũng là một Công Án và khước từ cũng là một Công Án thiền tịnh giữa cuộc đời não loạn hôm nay (?!).
Giải thưởng Hòa Bình Thế Giới xuất phát từ phía đạo Thiên Chúa vinh danh hiến tặng cho một tu sĩ thuộc hàng giáo phẩm cao cấp của Phật giáo là một quyết định trung thực và cao quý. Lịch sử tôn giáo đã có sự phân định hiển nhiên rằng, giữa hai tôn giáo theo Phật và Chúa, từ trong tín lý cơ bản, đã có sự bất đồng. Xa hơn nữa là quá trình du nhập và truyền thừa các tôn giáo vào Việt Nam không thông suốt hay bão liệt giống nhau. Cho nên, tự trong dòng lịch sử của đất nước Việt Nam, vốn đã thiếu sự tiếp cận, giao hảo, hỗ trợ và tìm hiểu nhau trọn vẹn giữa các tôn giáo ở quê nhà. Nay sang thế giới Âu Mỹ, phải cần đến một viễn kiến cao xa hơn ở tầm mức quốc tế, cả hai phía mới có dịp nhìn rõ nhau.
Giải thưởng Pacem In Terris dành cho TS Nhất Hạnh là một cái bắt tay đầy khích lệ giữa hai phía không phải là đạo hữu, thiện hữu mà là trí hữu của nhau; nghĩa là đón nhận nhau như những người bạn không phải vì đồng dạo, cũng chẳng phải vì tình thân nhưng bởi sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.
Trang sách mở đầu khi nào cũng hay, cũng đẹp, cũng chỉnh chu… nhưng những trang tiếp theo cũng phải cần đến thiện tâm và thiện chí song phương của cả hai bên mới biến tôn giáo thành Đạo, thành Con Đường, để đi đến chỗ chân thiện chứ không phải là “pháo đài” lập nên để công kích, phê phán nhau qua “lỗ châu mai” của biên kiến và hý luận tầm thường.
Cuộc cách mạng truyền thông đại chúng đã giúp nhân loại và các quốc gia, tôn giáo, nhóm phái… có cơ hội và phương tiện bắc nên những nhịp cầu nối kết giữa hai bến bờ còn xa lạ. Nhịp cầu là phương tiện thiện xảo cấp thời giúp những phía khác biệt tiếp cận nhau, hiểu biết nhau hơn trong vòng hiếu hòa, tương kính, tương trợ và thân hữu. Thiền sư Nhất Hạnh là một trong những người tiền phong bắc nên nhịp cầu tâm linh Đông Tây. Sự thành công của Thầy đang được cộng đồng quốc tế công nhận và tán thưởng. Đó là một vinh dự cao quý cho Thầy, cho Tăng đoàn Làng Mai và cho Phật giáo Việt Nam.
Xin kính chúc mừng thiền sư Thích Nhất Hạnh và kính chia vui với tăng thân Làng Mai.
Thiền viện Quy Nguyên, TexasPrinceton Meditation Center tháng 10 - 2015
Trần Kiêm Đoàn
-----------------------[*] Nguồn:
-----------------------[*] Nguồn:
Thich nhat hanh won Pacem In Terris award 2015
https://www.catholicmessenger.net/2015/10/thich-nhat-hanh-named-pacem-in-terris-winner/
http://qctimes.com/news/local/buddhist-monk-named-pacem-in-terris-winner/article_f8e5c73c-27d1-51a0-9f91-d850486365fe.html
http://www.qconline.com/news/releases/zen-master-named-pacem-in-terris-peace-and-freedom-award/article_7e2edaca-3e7d-506f-9ee1-2f59869bf4f2.html
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
